Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

Xe thổ mộ ở Thuận An, Bình Dương

 Đăng bởi Nguyễn Thanh Lợi 

Xe thổ mộ là loại phương tiện đi lại phổ biến ở vùng Sài Gòn-Gia Định vào những năm đầu thế kỷ XX. Đây là một loại xe ngựa (một ngựa kéo) và được bắt nguồn từ kiểu cỗ xe song mã sang trọng của Pháp, sau đó được chế tác, cải tiến lại cho phù hợp với điều kiện và địa hình, đồng thời kiểu xe cũng chịu ảnh hưởng nhất định từ những chiếc xe ngựa của người Trung Quốc thời cổ.

Vào những năm đầu của thế kỉ XIX, khi người Pháp đưa vào Việt Nam những chiếc xe song mã sang trọng do ngựa kéo để phục vụ nhu cầu đi lại xuất hiện khá nhiều ở Nam Kỳ. Người dân ở đây đã tự mày mò chế tạo một loại xe ngựa mô phỏng theo kiểu xe song mã của người Pháp, nhưng tính năng sử dụng lại ưu việt, giá cả lại bình dân nên rất được giới bình dân ưa chuộng (Trăm năm xe thổ mộ, Nguyễn Hiếu).

Xe thổ mộ ở Thuận An, Bình Dương -1
Xe thổ mộ ở Sài Gòn (ảnh tư liệu)

Về tên gọi xe thổ mộ và xuất xứ của xe còn có nhiều thông tin khác nhau. Trong quyển Dictionnaire Vietnamien Chinois Francais có vài từ liên quan tới xe thổ mộ được giải thích như sau: Thổ mộ: Voiture trainée par un cheval (Saigon). Xe thổ mộ: Coupé (voiture). Trong đó, phân biệt rất rõ xe thổ mộ với xe song mã (xe kiếng).

Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức cho 2 nghĩa của từ thổ mộ: “1.Cuộc đất dành chôn người chết (Đất thổ mộ, thổ mộ tư); 2.Tên thứ xe ngựa hai bánh, mui khum, vè dùng để chở theo (xe thổ mộ)”.

Tự điển Việt Nam của Ban Tu thư Khai Trí thì chua nghĩa của “thổ mộ” là loại xe ngựa chở người và đồ ở miền Nam”.

Vương Hồng Sển giải thích trong Tự vị tiếng Việt miền Nam: “thứ xe do một ngựa kéo dùng chở hàng chở bộ hành vùng ngoại ô Sài Gòn/ Chợ Lớn, Lái Thiêu… đặc biệt có mui khum khum như núm mồ, cũng gọi xe hộp quẹt, nhại tiếng Pháp “boite d’allumettes” và họ chế giễu gọi xe ấy là “tac-à-tac” có lẽ vì khi chạy, vó ngựa chạm mặt đường trải đá nghe có điệp ngữ “tắc tắc” (tách tách).

Xe thổ mộ ở Thuận An, Bình Dương -2
Xe thổ mộ ở Hòa Hưng (tranh Bé Ký)

Nhiều tác giả cho rằng xe thổ mộ được đặt tên như vậy vì cái mui khum như mu rùa, giống ngôi mộ. Hay trước đây, việc chở quan tài đi chôn xa phải dùng xe ngựa đưa đến chỗ đất (thổ) mồ mả (mộ), nên quen gọi xe ngựa là xe thổ mộ (Hoàng Anh, Báo Sài Gòn giải phóng thứ bảy, số 375).

Nhà văn Sơn Nam và Nguyễn Nguyên cho rằng, thổ mộ là tên gọi trại từ xe “thảo mã” của Trung Quốc (tiếng Quảng Đông: “xe độc mả”), nghĩa là xe dùng ngựa để chở cỏ của người Trung Quốc (Nguyễn Hiếu Học, Dấu xưa đất Thủ).

Theo nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh, từ Hán Việt “độc mã” đọc thành “tục mã” theo giọng Quảng Đông. Xe ngựa được gọi là xe thổ mộ ở Nam Kỳ xuất hiện dưới thời Pháp thuộc từ 1862 đến 1954, là phương tiện kinh doanh vận chuyển phải đóng thuế, được ghi nhận bởi người Pháp, nên bị đọc và viết trại qua tiếng Pháp và chữ Latin. Bản thân chữ tục trong tục mã đọc theo giọng Quảng Đông cũng không hẳn như người Việt đọc, vì nó mang âm sắc kiểu giọng mũi.

Ở đây đã xuất hiện quá trình tôộc mã đọc theo âm Quảng Đông chuyển thành T’ủ mỏ trong tiếng Pháp rồi mới thành thổ mộ trong tiếng Việt, việc nó trùng âm với thổ mộ (mộ đất) trong từ Hán Việt là hoàn toàn ngẫu nhiên. Vì không phải bất cứ từ thổ nào trong tiếng Việt hiện nay cũng có ý nghĩa là thổ (đất) hay thổ (nôn mửa).

Đây là một trong những chứng cứ rõ ràng về việc xe thổ mộ là xe một ngựa, tức thổ mộ có liên quan với độc mã, qua giọng Quảng Đông bị lệch đi qua tiếng Pháp và chữ viết Latin (Cao Tự Thanh, Xe thổ mộ là xe một ngựa).

Xe thổ mộ ở Thuận An, Bình Dương -3
Xe thổ mộ ở Biên Hoà xưa khoảng năm 1920-1929

Tên gọi xe thổ mộ bắt nguồn từ “độc mã” đọc thành “tục mã” theo giọng Quảng Đông. Từ tôộc mã đọc theo âm Quảng Đông chuyển thành T’ủ mỏ trong tiếng Pháp rồi mới thành thổ mộ trong tiếng Việt. Còn cách giải thích gọi là xe thổ mộ vì cái mui xe giống ngôi “mộ đất” trong từ Hán Việt là hoàn toàn ngẫu nhiên.

Có nhiều ý kiến khác nhau về xuất xứ của chiếc xe thổ mộ ở Nam bộ, có người cho là ở Sài Gòn, ý kiến khác lại cho rằng xe thổ mộ có nguồn gốc ở Bình Dương mà dẫn chứng là qua bài Vè 47 chợ (Lư Nhất Vũ, Nguyễn Văn Hoa, Lê Giang, Từ Nguyên Thạch, Dân ca Sông Bé):

Thiên hạ thất kinh
Là chợ Hớn Quản
Khô như bánh tráng
Là chợ Phan Rang
Xe thổ mộ dọc ngang
Là chợ Thủ Dầu Một
Khỏi lo ngập lụt
Là chợ Bưng Cầu…

Theo một số tài liệu thì xe thổ mộ có nguồn gốc từ đảo Madagasca, sang đến Việt Nam được trang trí mang dáng vẻ Á Đông và khi đến Việt Nam được sửa đổi lại cho phù hợp với sức ngựa Việt Nam.

Xe thổ mộ chủ yếu dùng chở người. Ban đầu những nhà giàu người Việt, người Hoa ở Nam bộ đều sắm xe thổ mộ riêng. Về sau mới lan rộng ra giới bình dân, nhất là ở thôn quê. Xe có mui che thoáng mát, thích nghi với đường gập gềnh. Ông Quảng Dù ở Chợ Lớn có nhiều xe thổ mộ cho thuê.

Như vậy, xe thổ mộ bắt nguồn từ xe độc mã (xe 2 bánh, 1 ngựa kéo), có mui che, bề ngang gọn, hẹp (Phan Xuân Biên chủ biên, Địa chí Bình Dương, Tập 4).

Và xe thổ mộ xuất hiện khoảng thời điểm năm 1920. Cái nôi của xe thổ mộ chính là vùng Hóc Môn, nhưng lò sản xuất chính sau này lại thuộc về Thủ Dầu Một.

Vào thập niên 1890, chiếc xe song mã sang trọng được đưa vào đất Thủ Dầu Một để phục vụ cho giới quan lại, quý tộc. Do xe đẹp và tiện dụng, những người thợ khéo tay nơi đây đã mô phỏng để chế tác ra chiếc xe thổ mộ. Thủ Dầu Một là địa phương có nghề thủ công phát triển mạnh, cùng với lợi thế về nguồn nguyên liệu gỗ và nhu cầu về vận chuyển hàng hóa, nên nghề chế tác xe thổ mộ xuất hiện và nhanh chóng đáp ứng nhu cầu này. Bài Vè chợ Thủ đã cho thấy nghề xe thổ mộ đã trở nên thịnh hành nơi đây:

Xuống đầu cầu sắt
Trại cưa trước mặt
Thổ mộ có hàng
Rủ nhau soạn bàn
Đi về Bưng Cải
Mênh mông đại hải
Khắp cả Châu Thành.

Xe ngựa xuất hiện nhiều ở Nam bộ, riêng vùng Đông Nam bộ chỉ có vài nơi có khả năng sản xuất và thường sử dụng phương tiện này là Hóc Môn, Gò Vấp, Lái Thiêu, Thủ Dầu Một. Thủ Dầu Một là địa phương có điều kiện để chế tác xe thổ mộ vì đây là vùng đất có nhiều loại gỗ quý tốt cứng chắc để làm xe và có nhiều nghệ nhân cha truyền con nối trong nghề đóng xe ngựa.

Lúc đầu trục xe, căm xe làm bằng gỗ cứng, về sau cải tiến làm bằng sắt nên xe càng chắc chắn, di chuyển dễ dàng. Thùng xe đóng không mui được cải tiến thành có mui che mưa nắng. Thùng xe rộng và dài, chuyên chở người và hàng hóa gọn nhẹ trên các tuyến đường nội và ngoại ô. Xe nâng cấp có mui cao, vành cong, thùng xe đóng bằng gỗ tốt như giáng hương, gõ, thành xe đánh vẹc ni màu đỏ, gắn thêm đèn (đèn chai), đèn lồng kiếng, lục lạc để báo hiệu… Kiểu dáng, kích thước xe thổ mộ thay đổi theo hướng tiện dụng hơn, đẹp hơn.

Nơi làm bánh xe, trục xe bền chắc là vùng Thuận Giao, An Thạnh vì nơi đây có nhiều thợ rèn lành nghề. Đóng thùng xe đẹp, bền chắc, trang nhã phải kể đến Tân An, Tương Bình Hiệp, chợ Thủ Dầu Một. Nổi tiếng nhất ở Nam Bộ về nghề đóng và rèn móng ngựa là ở khu phố Hưng Thọ, phường Hưng Định, thị xã Thuận An, Bình Dương. Khu vực làng Tương Bình Hiệp, ven làng Phú Cường xưa, có rất nhiều cơ sở đóng xe ngựa, xe thổ mộ, gia công trục, bánh xe ngựa cho khắp xứ Nam Kỳ.

Xe sản xuất tại đây còn được gọi là xe “thùng Thủ” để phân biệt với các nơi sản xuất khác và cũng để khẳng định “đẳng cấp” của mình. Gọi là xe thùng Thủ vì hình dáng giống cái thùng.

Xe thổ mộ dài 1,8m, cao 1m, làm bằng gỗ mít, phía trên chia làm 3 ổ cửa sổ, chiều ngang thùng xe 0,85m đặt chồng lên 2 gọng dài 2,7m, được vít cứng trên bộ nhíp 4 lá (4 trên, 4 dưới) hình trái khế, để tạo đàn hồi, giữ cho thùng xe thăng bằng khi chạy. Nhíp xe cặp vào thanh ví bằng thép. Hai thanh ví luồn vào 2 ổ trục (không dùng bạc đạn), Một bánh xe ngựa có 6 miếng đà (mỗi bánh 12 căm), một bộ đùm làm bằng gỗ tốt như giáng hương hay gỗ chò, ngoài cùng bọc lòng máng (niềng bằng sắt), tròng bên ngoài lớp vỏ cao su cắt từ vỏ xe hơi. Thủ Dầu Một có ưu thế về vật liệu gỗ để làm xe, nhất là gỗ tốt, gỗ thật cứng để làm ổ, vành và nan bánh xe.

Xe ngựa Bình Dương được chế tác bằng nhiều loại gỗ khác nhau trong một chiếc xe, tùy chức năng của các bộ phận. Như cặp vè, cặp dìm (tấm để làm rèm), bửng trước, bửng sau làm bằng gỗ mít; trụ, gọng, bánh (cả đùm, căm xe) làm bằng gỗ giáng hương.

Sửa xe thổ mộ (ảnh tư liệu)

Chiếc xe thổ mộ trông đơn sơ nhưng việc sản xuất rất công phu, đòi hỏi nhiều kinh nghiệm và nhiều trang thiết bị. Trên đầu ngựa phải có bao trá; cổ ngựa đeo lục lạc làm nhạc ngựa; cặp đèn lồng kính hai bên tay đèn, yên và cương xe ngựa bằng da bò; vòng cổ có lá lót, dây lôi để kìm cổ ngựa; dây bụng mui xe bên trong bằng gỗ, bên ngoài bọc thiếc…

Vị tiền bối của nghề đóng xe ngựa ở Thủ Dầu Một là cụ Trần Văn Ký, sinh năm 1883. Người sắm xe thổ mộ sớm nhất tại vùng đất này là Hương quản Luốc ở xã Định Hòa (gần chợ Bưng Cầu, TP. Thủ Dầu Một). Nổi danh trong nghề đánh xe ngựa là ông Sáu Xích, con ông Trần Văn Ký. Con trai Hương quản Luốc, ông Trần Văn Hai (Hai Sộp) ở gần cầu Ngang (khu phố Hưng Thọ, phường Hưng Định, thị xã Thuận An), là người giỏi phục chế xe ngựa cổ ở đất Bình Dương (Nguyễn Hiếu Học, Dấu xưa đất Thủ).

Những nghệ nhân danh tiếng trong làng đóng xe ngựa của đất Bình Dương có thể kể đến dòng họ ông Hai Sộp với 4 đời làm nghề. Ngoài ra, còn có các ông Mười Thân, Tư Hoàng, Sáu Kịp, Bảy Chụm… (Phan Xuân Biên chủ biên, Địa chí Bình Dương, Tập 4).

Xưởng đóng xe thổ mộ của Hai Sộp là nơi hiếm hoi còn lưu giữ lại những kiểu dáng xe ngựa xưa với những kỹ thuật chế tạo bí truyền. Sinh ra trong gia đình có truyền thống làm nghề xà ích, ông cùng cha rong ruổi khắp Nam bộ. Hai chiếc xe thổ mộ của gia đình chuyên đón hàng ở Chợ Lớn, Lái Thiêu, chợ Thủ Dầu Một… đi các tỉnh miền Tây, Bình Phước, Tây Ninh, có chuyến đi kéo dài gần nửa tháng. Hành lý mang theo trong mỗi chuyến đi là bộ đồ nghề dùng để sửa chữa và đóng mới xe thổ mộ. Tiền công thường là các loại gỗ quý, bền đẹp được đưa về để đóng xe thổ mộ. Nhiều người biết tiếng xe ngựa ông Ký (cha của ông Hai Sộp) vừa gọn nhẹ, bền đẹp, giá cả bình dân nên luôn có nhiều đơn đặt hàng. Ông Ký mở rộng xưởng, thuê thêm nhân công, chế tác ra nhiều kiểu dáng xe ngựa mới nhưng vẫn theo nghề xà ích, nhận chở hàng hóa cho khách thương khắp miền.

Ông Hai Sộp đã từng góp mặt trong nhiều bộ phim như Đất phương Nam, Công tử Bạc Liêu, Người đẹp Tây Đô… Tháng 9.2010, ông và chiếc xe ngựa tự chế của mình được đoàn làm phim mời ra miền Trung tham gia bộ phim lịch sử cổ trang Trở về Thăng Long. Chiếc xe ngựa này được thiết kế dành riêng cho vai vua Quang Trung trong những lần tiến quân ra Bắc, do ông và hai người con trai đóng suốt hơn ba tháng mới xong (Tấn Tài, Người đóng xe thổ mộ cuối cùng).

Xe thổ mộ ở Thuận An, Bình Dương -6
Lão xà ích Hai Sộp trong một cảnh quay về Nam Bộ xưa (ảnh tư liệu)

Thập niên 1940-1950 là giai đoạn phát triển mạnh của xe thổ mộ, tại chợ Thủ Dầu Một có đến 3 bến xe thổ mộ với trên 50 chiếc, chưa kể các ở Lái Thiêu, Dĩ An. Tiền xe 1 người đi xấp xỉ tiền 1 tô hủ tiếu cho đoạn đường trung bình 10km. Bến xe ngựa ở đầu đường Hàng Dương (đường Bạch Đằng nay) và ở đường Trưng Vương. Từ đây, xe ngựa tỏa đi Bến Thế, Bưng Cầu, Phú Lợi, Thuận Giao, Tân Khánh…

Xe thổ mộ có mặt ở Bà Điểm, Hóc Môn, Củ Chi, An Nhơn Tây, Bà Quẹo, Bình Phước, Tây Ninh, Tân An, Cần Giuộc, Đức Hòa, Đức Huệ, Thủ Thừa, Biên Hòa, Bà Rịa và ở trung tâm Sài Gòn với các trục giao thông: chợ Bến Thành, Tân Định, Bà Chiểu, Phú Nhuận, Phú Lâm, Chợ Lớn, Xóm Chiếu, bến đò Long Kiểng. Có những chuyến đi xa kéo dài đến gần nửa tháng để mang hàng hóa giao thương ở các vùng.

Đặc điểm của xe thổ mộ là gọn nhẹ hơn xe kiếng, lại không lắp kính nên thoáng mát, phù hợp trong việc chuyển chở của người nhà quê với quang gánh cồng kềnh, thích hợp di chuyển trên những con lộ nhỏ còn gập ghềnh ở thị tứ lẫn nông thôn.

Xe thổ mộ có thể chở 8-10 hành khách hoặc chở hàng hóa, rau cải, bông hoa khoảng vài trăm ký. Trầu cau Bà Điểm ngày trước hầu hết được vận chuyển bằng xe thổ mộ. Khách ngồi trên sàn xe trải chiếu bóng. Từ thầy thông, thầy phán, quý cô cho đến những người buôn gánh bán bưng, công nhân lao động, học sinh nghèo xa nhà… cũng đều lựa chọn phương tiện đi lại không ồn ào này. Đi xe thổ mộ rất tiện lợi, có thể lên xuống bất cứ chỗ nào, giá cả lại rất rẻ so với các loại phương tiện giao thông khác. Cảnh đi rước dâu từ Long An về Gò Dầu (Tây Ninh) hay Thủ Dầu Một, Biên Hòa về Sài Gòn bằng xe thổ mộ là điều thường thấy ngày trước, trông thật hấp dẫn. Đi ăn giỗ, thăm họ hàng đường xa cũng dùng đến xe thổ mộ.

Chiếc xe thổ mộ còn thể hiện tài nghệ, óc thẩm mỹ của người thợ đóng xe Nam Bộ khi thiết kế các bộ phận cấu tạo bằng những vật liệu sẵn có ở địa phương, tăng thêm độ bền cho các cấu kiện phù hợp với địa hình. Kiểu dáng được cải tiến mang tính thanh thoát, đặc biệt là cái mui “khum khum” tạo ra hình dáng riêng biệt của xe thổ mộ thích hợp với thổ ngơi Nam Bộ.

Thời điểm năm 1861-1862, khi quân Pháp chiếm đóng Thủ Dầu Một, làng An Thạnh (Búng) đã có hơn 100 xe ngựa tụ tập. Bến xe thổ mộ này kéo dài khoảng 100m, nằm ở ngã ba đường Cách Mạng Tháng Tám và Thủ Khoa Huân nay, thuộc khu phố Thạnh Hòa A, phường An Thạnh, thị xã Thuận An. Bến xe ngựa ở chợ Lái Thiêu thì nằm ở phía bắc chợ Lái Thiêu, gần nhà làng Tân Thới, chỗ quảng trường rộng lớn một phần làm bến xe ngựa xe lam. Đồ hàng, trái cây từ An Sơn, Búng, Bình Nhâm, Hưng Định được vận chuyển về bến xe này mỗi ngày. Đối diện với bến xe thổ mộ là bến tắm ngựa, có những bậc tam cấp làm đường dẫn xuống rạch Lái Thiêu.

Khi nhu cầu xe thổ mộ gia tăng, nhiều địa điểm cạnh các con sông và các kênh rạch ở Thủ Dầu Một trở thành địa điểm cho các ghe thuyền tụ tập để cung cấp cỏ tươi cho các chủ xe thổ mộ hàng ngày như bến Cây Da trước chùa Bà ở Búng (An Thạnh). Trên đường Võ Tánh (trước năm 1975) nối liền khu vực Lò Chén và chợ Thủ có một cây dầu ở ngay chân cầu, địa điểm đó gọi là cầu Bến Cỏ.

Trên đường Điếu Ông, phía sau tiệm nước Nam Bắc Hiệp là bến xe thổ mộ gần chợ. Trước nhà làng Phú Cường, giữa khu vực đường Lê Văn Duyệt và đường Lý Thường Kiệt cũng là bến xe ngựa. Sau năm 1954, bên xe này trở thành bến xe đò. Sau năm 1970, bến xe đò dời vào gần Trường Trung học Bồ Đề nơi có ga xe lửa cũ, thì nơi này trở thành bến xe lam, còn bến xe ngựa bị dời về đường Bà Triệu, gần khu vực mì Cây Me cũ và nhà bà Bảy Lìn (theo Trần Thị Liên).

Xe thổ mộ ở Thuận An, Bình Dương -9

Xe thổ mộ ở Thủ Dầu Một chạy khi trời còn khuya với tiếng kêu lọc cọc trên đường từ những chiếc móng ngựa và tiếng lục lạc đánh thức mọi người. Bên phải mui thường là cây đuốc dầu chai cháy bập bùng. Xe chở bạn hàng đi bán giữa khuya đến 4 giờ sáng ở các chợ đầu mối. Xe chuyên chở hàng hóa ra bán ở chợ, đi thăm viếng, chúc Tết, cả đi rước dâu ở những nơi ghe thuyền không đến được (Nguyễn Thị Minh Phượng, Gia phả dòng họ Trần Thủ Dầu Một).

Đến thập niên 1960, xe lam được nhập khẩu, giao thông bằng xe ngựa ở Thủ Dầu Một dần dần suy tàn.

Ở Hưng Định xưa, nhiều gia đình nuôi ngựa và quần ngựa để kéo xe. Trong làng cũng có các nhà thợ chuyên đóng xe thổ mộ. Ngựa và xe thổ mộ từ Hưng Định phân phối đi khắp nơi. Hầu hết xe ngựa ở chợ Thủ đều đóng ở Hưng Định và nhiều người đánh xe là dân Hưng Định, nổi danh như ông Hai Sộp. Trước năm 1945, ông Hai Xứng ở ấp Thạnh Phú (xã An Sơn) chuyên chạy xe ngựa tuyến từ An Sơn ra chợ Búng.

Cũng ở tuyến xe này của An Sơn còn có ông Ba Mí (ấp Thạnh Lợi) chạy xe ngựa từ khoảng trước năm 1975 cho tới năm 1990 mới ngưng hoạt động. Sau khi giải nghệ ông vẫn còn nuôi con ngựa kéo xe của mình trong nhiều năm trong niềm luyến tiếc nghề cũ ở đất Thuận An này. Ở chợ Búng có bà Tư Tay ở dốc Dài (nay thuộc khu phố Thạnh Hòa B, phường An Thạnh) chạy xe ngựa mà nuôi được mấy người con ăn học từ khoảng những năm 1971-1972.

Đi kèm với nghề đánh xe thổ mộ là nghề rèn móng ngựa. Ngày xưa ở xóm Lò Rèn (khu phố Thạnh Hòa B, thị trấn An Thạnh nay) rất thịnh hành với nghề này với cả trăm lò rèn đỏ lửa nằm suốt dãy đường Thủ Khoa Huân đến dốc Sỏi, kéo dài cả cây số. Từ năm 2000-2010, số lò rèn đã sụt giảm gần hết, nay chỉ còn lại 2 lò ở khu vực này.

Xe thổ mộ ở Thuận An, Bình Dương -8
Lò rèn “Bi” của anh Huỳnh Ngọc Thuận với chiếc đe đóng móng ngựa mấy đời

Lò rèn “Bi” của anh Huỳnh Ngọc Thuận (sinh năm 1978), người theo nghề truyền thống này đến nay là đời thứ 3, chuyên gia công móng ngựa, móng bò cho khắp các tỉnh Nam Bộ, ra đến Ninh Thuận, nhiều nhất vẫn là Tây Ninh, Hóc Môn. Anh còn tham gia làm một số chi tiết cho xe ngựa của ông Hai Sộp ở Cầu Ngang, như uốn hoa văn, sườn xe. Sản phẩm “móng bò” của anh đi khắp các địa phương như Hóc Môn, Trảng Bom, Long Thành, Nhơn Trạch, Gò Công, Ninh Thuận… Ông Bảy Bếp ở xóm Lò Rèn này cũng nổi danh với nghề đóng móng ngựa, ở Phú Hòa thì có anh Tấn.

Xe thổ mộ ở Thuận An đã có một thời liệt oanh, nó không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế mà còn để lại dấu ấn đậm nét trong văn hóa truyền thống ở địa phương.

Nguồn KTNN 1054

Thứ Năm, 27 tháng 2, 2025

Lịch Sử Trường Y Khoa Hà Nội

 Một trường Y khi đó, dù mới sơ khai, cũng vẫn là đại diện duy nhất cho nền giáo dục đại học và cao đẳng của phương Tây ở Đông Dương. Nhưng tại sao lại là Y mà không phải các trường khác, có lẽ chính vì Y là ngành tân học dễ được chấp nhận nhất vì nhân đạo nhất. Sau này, khi đã bãi bỏ nho học, trường Y sẽ là con đường tiến thân của thanh niên, vẫn thoả mãn được mộng làm quan của nhiều người và vẫn đạt được những bằng cấp danh giá tương đương như cử nhân, tiến sĩ của chế độ trước. Theo ý nghĩa đó, trường Y sẽ là kế tục xứng đáng của Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của đất nước ta.

Cuối cùng, Hà Nội được chọn làm địa điểm thành lập trường vì trước hết, Hà Nội là đất thánh của giới sĩ phu Việt Nam, là cái nôi của nền giáo dục Hán học và tiêu biểu nhất cho cái xứ Đông Dương thuộc Pháp. Biên bản phiên họp thường kỳ năm 1898 của Hội đồng Tư vấn Tối cao Đông Dương (do Doumer thành lập) còn nói: "Bắc Kỳ không chỉ cho phép nghiên cứu các bệnh của vùng nhiệt đới Viễn Đông mà còn cả các bệnh riêng cho mùa lạnh. Hơn nữa, Bắc Kỳ tiếp giáp với Trung Hoa là nơi mà ảnh hưởng của nền Y học chúng ta đang ngày càng tăng cường. Đó là sự xâm nhập hữu hiệu nhất và cũng vinh dự nhất (nhấn mạnh của Henri Galliard, trong bài Yersin và việc thành lập trường Y Hà Nội - (Henri Galliard: Yersin và việc thành lập trường Y Hà Nội - Kỷ yếu trường Đại học Y Dược khoa Đông Dương, Hà Nội.- Tập 9.- 1944, tr 1).

Người ta lo đi tìm một hiệu trưởng cho trường Y tương lai. Những tài liệu lưu trữ cho thấy có nhiều người được giới thiệu. Brouardel, hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Paris đề nghị năm người, trên hết là hai cựu nội trú đã qua thi tuyển sang Đông Dương là Degorce và Le Roy des Barres nhưng bộ trưởng bộ Thuộc địa Decrais phản đối: hiệu trưởng phải không được quá trẻ mà phải là người có đủ uy tín để đảm đương được nhiệm vụ. Do đó, toàn quyền Doumer đã chọn nhà khoa học gốc Thụy Sĩ 39 tuổi, học trò của Louis Pasteur, là Alexandre Yersin, khi đó đang làm giám đốc viện Pasteur Nha Trang. Alexandre Yersin là người đã tìm ra vi khuẩn dịch hạch trong một đại dịch tại Hồng Kông năm 1894. (Chú thích) Những sách giáo khoa cơ bản của Nho học, gồm: Luận ngữ, Mạnh tử, Trung dung, Đại học (Tứ Thư), Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu (Ngũ Kinh)

 

Yersin cùng một người Việt Nam giúp việc sang Hồng Công lúc đang có đại dịch. Ông vấp ngay phải đối thủ cạnh tranh quyết liệt là nhà khoa học Nhật Bản Kitasato, học trò của Robert Koch (người tìm ra vi khuẩn lao). Với khả năng kinh tế rồi rào, Kitasato đã "mua" tất cả các nhà xác ở các bệnh viện Hồng Công nên Yersin và người giúp việc chỉ còn cách mật phục tại nghĩa địa trong một ngôi nhà tranh để nghiên cứu trên tử thi. Khác với nhà khoa học Nhật Bản chỉ quan tâm tìm vi khuẩn trong máu, Yersin tập trung vào chọc dò hạch và đã thành công. Thoạt tiên, vi khuẩn được Yersin đặt tên Pasteurella pestis để ghi nhớ công ơn thầy học nhưng hậu thế đã trả lại vinh dự cho ông khi đổi tên vi khuẩn dịch hạch thành Yersinia pestis.
Ông xây dựng Viện Vi trùng học Nha Trang năm 1895 và khi làm Hiệu trưởng trường Y Hà Nội năm 1902, ông nắm quyền lãnh đạo cả Viện Pasteur Sài Gòn do bác sĩ Calmette sáng lập năm 1891.

Trong ý kiến gửi lên toàn quyền Đông Dương, Yersin đã xác định rõ mục đích và yêu cầu của nhà trường: trường Y Đông Dương phải là nơi vừa đào tạo, vừa nghiên cứu khoa học, tiến tới trở thành một trung tâm khoa học có tầm cỡ tại Bắc Kỳ. Do đó, Yersin yêu cầu phải xác nhận giá trị công ích của trường, hiệu trưởng phải do Tổng Thống Cộng Hoà Pháp bổ nhiệm theo giới thiệu của hiệu trưởng trường đại học Y khoa hoặc Giám đốc Viện Pasteur Paris và các giáo sư do tổng thống Pháp bổ nhiệm theo giới thiệu của hiệu trưởng trường Y Hà Nội. Nếu được như vậy thì trường Y Hà Nội sẽ có qui chế tương đương như các trường đại học y khoa ở chính quốc

Kỳ thi tuyển đầu tiên vào trường Y khoa Hà Nội có 121 thí sinh Bắc Kỳ. Ngày đó, tiêu chuẩn cao nhất là biết ít nhiều tiếng Pháp. Hệ thống giáo dục phổ thông chưa được tổ chức (mãi năm 1907 mới thành lập trường Trung học Bảo Hộ, tức trường Bưởi). Theo kết quả công bố ngày 1.2.1902, có 15 người trúng tuyển, trong đó có 7 thí sinh người Hà Nội, tất cả đều đạt loại Xuất sắc (très bien), gồm các vị 7:

STT

HỌ VÀ TÊN

TUỔI

ĐỊA CHỈ

1.

Nguyễn Văn Thanh

16 tuổi

Số 10 phố Hàng Tre

2.

Tạ Văn Việt

16 tuổi

Số 109 phố Mã Mây

3.

Nhữ Trọng Tân

19 tuổi

Số 6 phố Hàng Ngang

4.

Trần Đình Huy

15 tuổi

Số 41 phố Hàng Bạc

5.

Phạm Đình Minh

15 tuổi

Số 100 phố Hàng Gai

6.

Nguyễn Văn Giụ

18 tuổi

Số 45 phố Hàng Vôi

7.

Phạm Văn Nam

20 tuổi

Số 16 phố Hàng Chiếu

Danh sách được học bổng đăng trong Công báo Đông Dương ngày 3 - 4 - 1902 gồm 27 người, riêng Hà Nội có 5 người, hơi khác với danh sách trúng tuyển ở trên (nguyên bản không có dấu và các tên đều có gạch nối)

Xứ Bắc Kỳ:

 

Hà Nội

Ta-van-Viet, Nhu-trong-Tam, Tran-dinh-Huy, Pham-dinh-Minh, Pham-van-Phan

Tỉnh  Bắc Ninh

Pham-dinh-Vi

Tỉnh Hải Dương

Nguyen-van-Ban, Le-quang-Linh

Tỉnh Hưng Hoá

Nguyen-huu-Phuc

Tỉnh Nam Định

Hoang-van-Phong, Bui-van-Qui, Tran-van-Chuc, Do-van-Tân

Tỉnh Ninh Bình

Cao-dinh-Tu

Tỉnh Sơn Tây

Le-nhu-Hang

Xứ Trung Kỳ:

Ung-Phong, Le-Canh, Vo-dai-Thuc, Van-dinh-Gian

Xứ Nam Kỳ:

Lương-van-Thieu, Nguyen-van-Ba, Vo-van-Huu, Nguyen-van-Danh, Pham-van-Chu, Nguyen-van-Tiep, Nguyen-van-Sanh, Nguyen-van-Trong

Xứ Cao Miên:

Pendinand Amphon

Cộng 28 vị (?)

 

 

 

Năm học đầu tiên cách đây đúng 100 năm có 15 học sinh Bắc Kỳ, 5 học sinh Trung Kỳ, 8 học sinh Nam Kỳ và 1 học sinh Cao Miên (nhưng không thấy trong danh sách học bổng), tất cả 29 người 8 được họcbổng với mức 8 đồng một tháng (có lẽ để bảo đảm tính chất "Đông Dương" nên riêng Bắc Kỳ có số thí sinh đông nhất mới phải thi tuyển, còn học sinh các xứ khác do chính quyền địa phương cử tuyển trong số người biết tiếng Pháp). Không có căn cứ cụ thể để tính giá trị của học bổng này, nhưng dựa vào luận án của Giáo sư Đinh Văn Thắng năm 1940 có thể biết được đại khái: giá cả năm 1938 là 1 hào một chục bìa đậu phụ hoặc một lít nước mắm loại ngon. Theo Nguyễn Ngọc Lanh (do các cụ kể lại) thì 6 đồng bạc năm 1902 mua được 1.000 quả trứng hoặc 3 - 4 tạ gạo. Lương Tri huyện vào thời này cũng chỉ khoảng 25 đồng (theo Đặng Hữu Thụ: Làng Hành Thiện và các nhà nho Hành Thiện triều Nguyễn, sách tự xuất bản.- Paris 1992). Ngân sách dành cho thư viện và sách giáo khoa là 2000 đồng trong năm đầu tiên.

Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng toà nhà chính của trường (tức lễ thành lập) được tiến hành vào ngày 27 tháng Hai 1902 tại ấp Thái Hà (Nam Đồng), cách xa trung tâm Hà Nội, ngay hôm trước ngày khánh thành cầu Paul Doumer (tức cầu Long Biên). Chắc không phải ngẫu nhiên mà hai "dấu ấn văn hoá" này của toàn quyền Paul Doumer được trình làng vào cùng một dịp.

Trường khai giảng ngày 1 tháng Ba 1902. Thời gian học cho tới kỳ nghỉ hè 1902 thật ra là để hoàn thành chương trình dự bị trước khi khai giảng chính thức năm học vào tháng Mười. Các môn học gồm có:
- Giải phẫu và sinh lý học đại cương
- Động vật học, Thực vật học, Hoá học và Vật lý học đại cương
- Số học và Hình học
- Tiếng Pháp, Lịch sử và Địa lý đại cương.

Trong thời gian này, hiệu trưởng yêu cầu hai bác sỹ Le Roy des Barres và Degorce hoàn thành luận án tốt nghiệp tại Paris (hai bác sĩ này đã phải qua một kỳ thi tuyển sang Đông Dương). Khung cán bộ trong năm đầu tiên gồm 8 vị:
Yersin, hiệu trưởng
Degorce và Le Roy des Barres: giảng dạy lâm sàng
Bertin Capus, bác sĩ trưởng hạng nhất: giảng dạy giải phẫu
Jacquet, giám đốc sở Nông Nghiệp: giảng dạy thực vật học
Duveigne, dược sĩ trưởng: giảng dạy Hoá học
Gallois, thư ký: giảng dạy Lịch sử, Địa lý, Toán học, Hoá học và Vật lý học cơ bản
Lê Văn Chinh, phụ giảng và phiên dịch (thầy Chinh, năm 1905, được sang Pháp thi bác sĩ y khoa)

Như vậy có tới 6 vị có học vị bác sĩ (theo cách gọi thời đó, thực chất là tiến sĩ) và 1 vị có học vị cử nhân để giảng dạy 29 học sinh mới chỉ võ vẽ tiếng Pháp và chút ít kiến thức về toán pháp và cách trí (tên gọi các môn khoa học thường thức ngày ấy). Không kể học sinh Nam Kỳ, học sinh Bắc Kỳ chắc còn phải giỏi Hán văn vì những năm đó, nhiều người trong số họ có thể đang chuẩn bị thi Hương thì bỏ sang cầm bút sắt. Ngoài ra để đi thi Hương những khoá cuối cùng, họ cũng sẽ phải thi môn toán pháp và cách trí. Nếu đây là một lớp nho sinh thì chắc không bao giờ có một số đông đến thế các vị khoa bảng cùng giảng dạy trong một khoá học.

Chương trình ba năm học được qui định như sau:

Năm thứ Nhất:

Năm thứ Hai:

Năm thứ Ba:

Giải phẫu lý thuyết

Giải phẫu lý thuyết

Giải phẫu định khu

Mô học

Lâm sàng ngoại khoa

Bệnh ngoài da và hoa liễu

Phẫu tíchPhẫu tích

Phẫu thuật

Lâm sàng ngoại khoa

Lâm sàng ngoại khoa

Lâm sàng nội khoa

Điều trị học

Sinh lý họcHoá học

Vi trùng học

Lâm sàng nhãn khoa

Lâm sàng nội khoa

Bệnh học đại cương

Phẫu thuật

Động vật học, lý thuyết và thực hành

Bệnh học nội khoa

Pháp Y

Thực vật học

Bệnh học ngoại khoa

Phôi thai học

Vật lý học, hoá học, lý thuyết và thực hành

Vật lý học

Vệ sinh

Tiếng Pháp, Địa lý, Lịch sử

Địa chất học

Lâm sàng nhãn khoa

 

Giải phẫu bệnh học

Lâm sàng nha khoa

 

Thiên văn học

Lâm sàng sản khoa

 

Dược lý học

Lâm sàng nội khoa

 

Khí tượng học

 

Môn Giải phẫu được giảng dạy trong cả 3 năm học, dù nay chưa biết nội dung hay dung lượng nhưng phải học suốt 3 năm là khá nặng, đã có thể thấy là học sinh được đào tạo rất cơ bản và không thể coi đây là một chương trình trung cấp. Những môn cơ bản khác, như địa chất, thiên văn và khí tượng thì học sinh tốt nghiệp phổ thông của ta bây giờ cũng không biết nhưng lại cần cho hành nghề y, vì liên quan tới những kiến thức về khí hậu, thời tiết và lịch pháp (thuật tính lịch). Tóm lại là kiến thức của học sinh y khoa khoá đầu được chuẩn bị khá toàn diện Thực hành rất được chú ý.

Học sinh ngay từ năm thứ nhất đã đi thực tập tất cả các buổi sáng, từ 7 đến 9 giờ, tại bệnh viện thực hành của nhà trường (được xây dựng cách trường 200 mét, thời gian đầu có 5 phòng, 40 giường, 4 y tá nam, 2 y tá nữ và 6 y công), buổi chiều lên lớp lý thuyết. Chiều thứ Năm hàng tuần có kiểm tra viết, thứ Bảy có thêm kiểm tra vấn đáp.

Đã có nhiều ý kiến trong giới cầm quyền thực dân phản đối chương trình học của trường, cho rằng các môn cơ bản (lịch sử, địa lý, địa chất, thiên văn, khí tượng) chỉ là kiến thức chết, làm học sinh không tập trung được cho các môn y học. Câu trả lời của Yersin mang tính nhân văn sâu sắc: "Đó chỉ là chương trình tạm thời, có thể thay đổi khi chúng ta có thêm kinh nghiệm. Chúng tôi cho rằng dạy học sinh một số kiến thức về phương Tây là cần thiết vì y học hiện đại có nguồn gốc từ phương Tây. Giả sử ngược lại, y học hiện đại có nguồn gốc từ Trung Hoa thì chúng ta sẽ phải dạy cho sinh viên châu Âu các kiến thức về Trung Hoa... Quả thật là các thầy thuốc do nhà trường đào tạo sẽ chỉ hành nghề chủ yếu ở đất nước họ, nhưng đó không phải lý do để chỉ dạy họ những môn thuần túy y học, nghĩa là chỉ muốn họ trở thành các thầy thuốc tồi" (Yersin: Thư gửi toàn quyền Đông Dương ngày 20.8.1902).

Rõ ràng chương trình học nhằm cung cấp cơ sở lý thuyết và thực hành cần thiết cho học sinh trong điều kiện hệ thống giáo dục phổ thông chưa hình thành. Kết quả các kỳ thi kiểm tra tháng Sáu rất tốt, 15 học sinh đạt điểm trung bình 6/10, chứng tỏ họ có khả năng tiếp thu những môn học mới mẻ và đa dạng của chương trình

 

Có lẽ các bạn trẻ sẽ ngạc nhiên khi chỉ có 15/29 người đạt trên trung bình mà đã khen là kết quả "rất tốt". Ngày trước, các kỳ thi lên lớp rất khó khăn, thường chỉ nửa số sinh viên Y1 học chính qui lên được Y2 và lại một nửa số đó sẽ lên Y3, nên khoá đầu, trong điều kiện trình độ phổ thông còn hạn chế mà đạt được tỷ lệ lên lớp gần 50% đã là kết quả tốt.
Kết quả các kỳ thi Tú tài phần 1 sau này cũng ngặt nghèo: thường chỉ đạt tối đa 30 - 35% qua cả hai lần thi đầu và cuối hè, tú tài phần 2 được khoảng 40%, nghĩa là cuối cùng, chỉ còn 14-15% học sinh mỗi khoá tốt nghiệp phổ ông.

Bệnh viện thực hành, mới đến ngày 25 tháng Hai, chỉ 5 ngày trước khi khai trường, đã nhận 21 bệnh nhân nội trú. Trong 4 tháng đầu đã nhận điều trị 546 bệnh nhân nội trú và khám bệnh, phát thuốc cho 250 bệnh nhân ngoại trú. Số bệnh nhân có thể nhiều hơn nữa nếu bệnh viện có thêm ngân sách và giường bệnh.

Nghị định ngày 28.7.1902 bổ sung đầy đủ hơn về các qui chế học tập, chương trình và thời gian các học kỳ (nghỉ Tết trong suốt tháng 2 và nghỉ hè từ 16 tháng 6 đến 15 tháng 9). Sau khi tốt nghiệp, học sinh được cấp bằng y sĩ và có thể dự thi để được làm nội trú bệnh viện hoặc phụ giảng (répétiteur) của trường trong 2 năm. Như vậy, chế độ thi nội trú đã được đặt ra ngay từ đầu, theo khuôn mẫu các trường đại học Y bên Pháp (vì vậy có lẽ mà khoá đầu ra trường mất những 5 năm, sau hai năm làm nội trú)

Địa điểm ấp Thái Hà không thuận tiện cho việc đặt trường. Khu vực này cách trung tâm thành phố tới 5 kilômét (hồi ấy chủ yếu đi bộ), nên ít bệnh nhân; nhiều ao hồ nên bệnh sốt ráe còn hoành hành (chỉ vài tháng sau khi khai giảng, hầu hết học sinh cũng như nhân viên người Âu đã bị sốt rét). Được ít lâu, có thể là vào cuối năm 1902, trường phải dọn về một ngôi nhà ở phố Bobillot (phố Lê Thánh Tông ngày nay) còn bệnh viện thực hành thì về đầu phố Armand Rousseau (phố Lò Đúc), có hai căn nhà bằng gỗ lợp lá gồi.

Theo đề nghị của học sinh, hiệu trưởng ký quyết định cho phép họ được đeo thẻ bài có khắc dòng chữ Hán "Học sinh Y khoa Đông Dương". Đây là một vinh dự rất lớn vì ngày đó, chỉ các quan Nam Triều mới được đeo thẻ bài. Đeo thẻ bài thì phải mặc Nam phục (áo dài may bằng the, đoạn, hoặc gấm, khăn xếp, dép da) để đeo vào khuy áo bên phải ngực. Mới vào học trường Y mà đã ra dáng một vị đường quan rồi. Hiệu trưởng tỏ ra rất hiểu và thông cảm với tâm lý học sinh nên mới có quyết định này. Có lẽ điều đó cũng phản ánh quan niệm của hiệu trưởng: trường sẽ đào tạo ra các trí thức cao cấp cho xã hội, không phải chỉ đơn giản là những anh y sĩ phụ việc như trong quyết định thành lập.

Cuối năm 1902, Paul Doumer mãn nhiệm, rời Đông Dương về Pháp, Yersin trở nên đơn độc trước các ý kiến chỉ trích chương trình học của nhà trường. Paul Beau sang thay đã ban hành các nghị định qui định chi tiết chức năng và nhiệm vụ của trường Y Hà Nội: đổi tên trường thành trường Y khoa Đông Dương trực thuộc Toàn quyền Đông Dương, kéo dài chương trình học thành 4 năm và học sinh ra trường được cấp bằng y sĩ. Những học sinh đã tốt nghiệp trường Y Chợ Quán và các trường tương đương khác có thể vào học thẳng năm thứ Ba. Mở thêm khoa Nữ Hộ sinh và khoa Thú Y. Cho phép những người đang hành nghề đông dược được dự thính các giờ giảng.

Các nghị định không nói tới nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, có nghĩa là đã hạ thấp vai trò của trường Y Đông Dương thành một trường trung cấp. Lớp dự bị vẫn được mở, chỉ học sinh nào thi tốt nghiệp dự bị đạt yêu cầu mới có thể vào trường Y.

Với cách tổ chức mới của trường Y Đông Dương trong tầm nhìn thiển cận của giới cầm quyền, Yersin kết luận "Họ (những học sinh y khoa) đã bị kết án mà không qua xét xử". Vào thời kỳ đầu, nếu chưa có học sinh có trình độ phổ thông theo yêu cầu thì trường Y cố tạo ra trình độ đó cho học sinh trong khi chờ đợi, đó là lý do mở các lớp dự bị trước khi bước vào chương trình chính thức. Trong tư tưởng của ông, trường Y Đông Dương luôn là và thực chất là một trường Đại học đang phát triển. Ngày 9.7.1904, ông rời ngôi nhà số 44 đường Félix Faure Hà Nội (nay là đường Trần Phú) ra đi mãi mãi. Viện Pasteur Nha Trang và nhiều công việc khác đang chờ ông (ông là người phát hiện ra cao nguyên Đà lạt năm 1893, là người đưa giống cao su và cọ dầu sang trồng ở miền nam Việt Nam từ năm 1897). Ông đã cống hiến 39 năm còn lại của cuộc đời cho mảnh đất Nha Trang mà ông yêu quí và đã vĩnh viễn an nghỉ tại Suối Dầu, Nha Trang, trong lòng nhân dân, năm 1943. Dù trước kia Pasteur đã nhận định về ông: "Đây sẽ là một nhân tài đem lại vinh quang cho nước Pháp" nhưng ông không thể ở lại Paris với tất cả những điều kiện thuận lợi sẵn có. Ông là nhà khai phá, sẵn sàng dấn thân vào những công cuộc tìm kiếm khó khăn nhất, và ông đã thành công.

(trich Lich su Truong Y khoa Hanoi cua website Truong Y khoa Ha noi: http://www.hmu.edu.vn/tiengviet/lichsu/lichsu.html)

Y Dược Ðại Học Ðường Sài Gòn được thành lập năm 1947. Năm 1961, Y Dược Ðại Học Ðường Saigon được phân chia thành Y Khoa Ðại Học Ðường Saigon và Dược Khoa Ðại Học Ðường Saigon.

Nha Khoa Ðại Học Ðường Saigon
 
được thành lập năm 1964. 


Khóa Đầu Tiên Y Khoa Đông Dương

Thẻ Ngà Học Sinh Y Sĩ Đông Dương

Học Sinh Y Sĩ 1910

Khu Nội Trú

Bệnh Viện Bạch Mai 1915

Khóa Y Sĩ Đông Dương 1921-1925

Đại Học Y Dược 1923

Giảng Đường 1930

Hội nghị kỷ niệm 70 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27.2.1955 - 27.2.2025).

 Sáng 27-2, Sở Y tế tỉnh tổ chức Hội nghị kỷ niệm 70 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27.2.1955 - 27.2.2025). 

Tham dự có ông Nguyễn Văn Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh; ông Nguyễn Lộc Hà, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; ông Võ Văn Minh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; ông Nguyễn Văn Lộc, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh cùng các Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh. 


Ngành y tế tỉnh đã đạt được những thành tựu y khoa nổi bật, là điểm sáng trong khu vực

 (BDO) Sáng 27-2, Sở Y tế tỉnh tổ chức Hội nghị kỷ niệm 70 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27.2.1955 - 27.2.2025). 

Tham dự có ông Nguyễn Văn Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh; ông Nguyễn Lộc Hà, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; ông Võ Văn Minh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; ông Nguyễn Văn Lộc, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh cùng các Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh. 

Lãnh đạo tỉnh tặng hoa chúc mừng ngành y tế tỉnh 

Tại hội nghị, TS.BS Nguyễn Hồng Chương, Giám đốc Sở Y tế tỉnh, cho biết: trong những năm qua, ngành y tế Bình Dương đã không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Với sự quan tâm của tỉnh, đến nay, y tế tuyến cơ sở đang ngày càng phát triển mọi mặt, các bệnh viện tuyến tỉnh đã làm chủ được nhiều công nghệ, kỹ thuật cao của tuyến Trung ương và thế giới. 

Nhiều bác sĩ của ngành y tế tỉnh đã khẳng định tên tuổi của mình ở trong nước và trên bản đồ thế giới thông qua các giải như: Giải đặc biệt bàn tay vàng quốc gia, giải thưởng điều trị đột quỵ của Hội Đột quỵ thế giới...

Phát biểu chúc mừng tại hội nghị, chủ tịch UBND tỉnh Võ Văn Minh đã ghi nhận, biểu dương những thành tích, đóng góp bền bỉ của các thế hệ cán bộ, nhân viên ngành y tế tỉnh nhà. Đặc biệt, trong năm 2024, Bệnh viện Đa khoa tỉnh dưới sự kế thừa của các thế hệ đi trước và sự lèo lái của PGS.TS, Bác sĩ Nguyễn Lân Hiếu đã đạt được những thành tựu y khoa nổi bật, được xem là điểm sáng y tế trong khu vực. 

Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: “Năm 2025 là năm bản lề, đặc biệt quan trọng để Bình Dương cùng cả nước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, ngành y tế cần thực hiện tốt 6 nhiệm vụ trọng tâm. Tuyệt đối không để tiếp diễn tình trạng thiếu thuốc, thiết bị, vật tư y tế làm ảnh hưởng đến công tác khám và điều trị bệnh. Ngành cần chú trọng nâng cao y đức đội ngũ y tế, từng thầy thuốc, bác sĩ, nhân viên y tế phải thực sự là những “từ mẫu” của nhân dân. Toàn ngành cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, thúc đẩy chuyển đổi số; tăng cường quản lý chặt chẽ hoạt động y tế tư nhân, gắn với khuyến khích, thu hút, mời gọi nhiều dự án đầu tư xây dựng bệnh viện đa khoa, chuyên khoa chất lượng cao, bệnh viện tuyến cuối trên địa bàn; tập trung nâng cao chất lượng hệ thống y tế cơ sở”. 

Chủ tịch UBND tỉnh cũng đề nghị ngành sớm hoàn thiện mua sắm trang thiết bị, chuẩn bị nguồn nhân lực, sắp xếp, bố trí các cơ sở y tế theo chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được phân công. 

Thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Lợi trao Quyết định phong tặng Thầy thuốc ưu tú cho Cử nhân điều dưỡng Đoàn Thị Nở
Thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, ông Nguyễn Lộc Hà, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy  trao Huân chương Lao động hạng Ba cho 3 cá nhân tiêu biểu

Tại hội nghị, thừa ủy quyền của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, lãnh đạo tỉnh trao Quyết định phong tặng Thầy thuốc ưu tú cho 1 cá nhân và Huân chương Lao động hạng Ba cho 3 cá nhân tiêu biểu; Tặng cờ thi đua của Chính phủ cho Trung tâm Kiểm nghiệm thuộc Sở Y tế tỉnh đã hoàn thành xuất sắc phong trào thi đua năm 2023. 

Lãnh đạo tỉnh tặng cờ thi đua của Chính phủ cho Trung tâm Kiểm nghiệm thuộc Sở Y tế tỉnh đã hoàn thành xuất sắc phong trào thi đua năm 2023

Dịp này, cán bộ công chức, viên chức, người lao động ngành y tế chia sẻ ngày công, ủng hộ Quỹ vì người nghèo tỉnh 100 triệu đồng. 

Lãnh đạo tỉnh trao bảng ủng hộ Quỹ vì người nghèo tỉnh 100 triệu đồng

Kim Hà