Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

Giấc mơ bác sĩ tại Mỹ: Đánh đổi 10 năm thanh xuân để có thu nhập hơn nửa triệu đô mỗi năm

TS ELLIE PHƯƠNG NGUYỄN (PHÓ GIÁO SƯ TRƯỜNG Y KHOA LECOM, MỸ)

Để trở thành bác sĩ y khoa ở Mỹ đòi hỏi một hành trình rất dài và gian khó, mất chừng 10 năm trở lên tính từ khi vào đại học đến lúc chính thức đi làm. Và cũng tốn rất nhiều công sức, tiền bạc (học phí trung bình 50.000 - 100.000 USD/năm).

Trường y và đào tạo bác sĩ ở Mỹ  - Ảnh 1.

Sinh viên Trường y khoa LECOM (Mỹ) - Ảnh: Fanpage nhà trường

Tuổi Trẻ giới thiệu bài viết của Ellie Phương Nguyễn - Phó giáo sư Trường y khoa LECOM (Mỹ). 

Trở thành bác sĩ y khoa tại Mỹ là một hành trình gian khó, đòi hỏi ít nhất 10 năm rèn luyện từ giảng đường đại học đến khi chính thức hành nghề. 

Tuy nhiên, sự đánh đổi này mang lại "quả ngọt" xứng đáng. Tùy thuộc vào chuyên môn, kinh nghiệm và quy mô bệnh viện, một bác sĩ có thể đạt mức thu nhập 300.000 - 600.000 USD/năm. Thêm vào đó, cơ hội nghề nghiệp luôn rộng mở bởi tốc độ già hóa dân số đang đẩy nhu cầu chăm sóc y tế tại Mỹ lên mức cao. 

Vô cùng cạnh tranh 

Ngay cả sinh viên bản địa của Mỹ cũng rất khó xin học bổng vào trường y, trừ khi được nhận vào chương trình kép dual program MD/PhD (bác sĩ/tiến sĩ). 

Đây là chương trình vô cùng cạnh tranh vì mỗi trường y chỉ nhận có vài suất MD/PhD mỗi năm, vừa được miễn học phí vừa được nhận sinh hoạt phí khi bắt đầu làm nghiên cứu sinh PhD từ năm thứ 3.

Khác với Việt Nam, bằng bác sĩ, dược sĩ hay nha sĩ ở Mỹ tương đương bằng tiến sĩ nên được gọi là Doctor of Medicine/Pharmacy/Dentistry vì phải có bằng đại học rồi mới được đăng ký vào học.

Vì vậy hầu hết sinh viên Mỹ phải vay tiền của chính phủ để học và trả dần vào lương sau khi tốt nghiệp (tính lãi suất sau khi tốt nghiệp), trung bình nợ từ 200.000 - 400.000 USD cho 4 năm học y ở Mỹ.

Ai thích làm bác sĩ lương cao (tầm 400.000 USD/năm) mà ít phải nói chuyện với bệnh nhân thì nên làm bác sĩ gây mê, chỉ cần hỏi mấy câu là bệnh nhân mê man rồi.

Còn nếu học trợ lý gây mê thì lấy bằng Master (cao học) chỉ mất hai năm rưỡi, khỏe hơn học bác sĩ rất nhiều nhưng đầu vào cũng rất cạnh tranh, lương trợ lý gây mê mới ra trường cũng trên 250.000 USD/năm.

Trường y và đào tạo bác sĩ ở Mỹ  - Ảnh 2.

Sinh viên Trường y khoa LECOM (Mỹ) trong giờ học thực hành - Ảnh: Fanpage nhà trường

3 giai đoạn chính

Quá trình đào tạo bác sĩ ở Mỹ có 3 giai đoạn chính:

Giai đoạn 1: 4 năm đại học. Cần có bằng đại học với các chuyên ngành hóa, sinh, sức khỏe cộng đồng, tâm lý học, xã hội học… để chuẩn bị kiến thức khoa học nền tảng và hoàn tất prerequisite courses (các khóa học tiền đề). 

Để được nhận vào trường y cần tốt nghiệp đại học với điểm GPA cao (3.5/4.0 trở lên), điểm thi MCAT cao (500 điểm trở lên), có kinh nghiệm thực tập ở phòng khám hoặc bệnh viện (1-2 năm, tình nguyện hoặc có lương), xin được 3-5 thư giới thiệu của các giáo sư đại học và bác sĩ, viết bài luận vì sao muốn làm bác sĩ để nộp hồ sơ vào trường y.

Giai đoạn 2: 4 năm trường y. Hai năm đầu học trên lớp về những môn khoa học cơ bản nhưng học sâu hơn và rộng hơn, có thể học dưới dạng giải quyết vấn đề thông qua các phân tích bệnh lý dạng thảo luận nhóm nhỏ, thay vì lên lớp nghe giảng kiểu truyền thống.

2 năm cuối trường y sinh viên đi thực tập tại các bệnh viện, phòng khám do trường sắp xếp. Thường là vào năm cuối thứ 4, sinh viên y khoa sẽ phải đi phỏng vấn để trở thành bác sĩ nội trú (residency) cho chuyên ngành mình chọn.

Giai đoạn 3: bác sĩ nội trú. Giai đoạn nội trú bắt buộc thường mất từ 3-7 năm tùy theo chuyên ngành. Bác sĩ nội trú sẽ thăm khám trực tiếp cho bệnh nhân nhưng làm việc dưới sự giám sát của bác sĩ điều trị chính và được trả lương 70.000 - 90.000 USD/năm tùy bang và chuyên khoa.

Hoàn tất giai đoạn nội trú sẽ thi lấy chứng chỉ hành nghề. Sau khi tốt nghiệp, bác sĩ ở Mỹ vẫn phải tiếp tục học cho đến hết đời bằng cách thi để giữ bằng hành nghề và bằng chuyên khoa sau mỗi 5-10 năm.
Trường y và đào tạo bác sĩ ở Mỹ  - Ảnh 3.

Sinh viên Trường y khoa LECOM (Mỹ) trong một hoạt động tại trường - Ảnh: Fanpage nhà trường

2 loại bằng y khoa

Bằng DO (Osteopathic Physician) do bác sĩ Andrew Taylor Still sáng lập ngành Osteopathic Medicine vào năm 1874, 10 năm sau khi 3 người con của ông qua đời vì bệnh viêm màng não tủy chỉ trong vài tuần.

Thất vọng với các phương pháp y học truyền thống kém hiệu quả bấy giờ, ông tập trung nghiên cứu giải phẫu học và mối quan hệ cốt lõi giữa cấu trúc xương khớp và chức năng của các cơ quan. Ông tin rằng cơ thể có khả năng tự chữa lành tự nhiên nếu được trị liệu đúng cách thay vì can thiệp thô bạo.

Năm 1892, ông thành lập Trường Osteopathic Medicine đầu tiên tại Kirksville (Missouri), khai sinh ra bằng DO nhằm đào tạo các bác sĩ điều trị theo phương pháp toàn diện cả thân-tâm-trí thay vì chỉ xử lý các triệu chứng cô lập, cục bộ trên từng cơ quan của bệnh nhân.

Có 2 loại bằng y khoa được cấp chính thức ở Mỹ là MD (Doctor of Allopathic Medicine, thi chứng chỉ hành nghề USMLE) và DO (Doctor of Osteopathic Medicine, thi chứng chỉ hành nghề COMLEX).

Cả hai bằng đều có giáo trình học và đào tạo tương tự nhau, được phép hành nghề tương đương nhau trong mọi lĩnh vực y khoa ở Mỹ từ khám chữa bệnh đến phẫu thuật.

Hiện ở Mỹ có khoảng 158 trường dạy MD và 48 trường đào tạo DO. Yêu cầu đầu vào của MD thì hơi cao hơn chút so với DO vì nhiều lý do.

Trường đào tạo DO mới được sáng lập vào cuối thế kỷ 19 và đang trên đà phát triển mạnh, còn bằng MD truyền thống đã tồn tại qua nhiều thế kỷ nên đương nhiên là phổ biến hơn.

Ở một số bang chỉ hỗ trợ một trường đại học cấp bằng MD. Do vậy các trường y mở sau phải cấp bằng DO dù cách thức đào tạo và độ khó là tương đương nhau.

Thậm chí DO còn đòi hỏi thêm 200 giờ thực tập y học trị liệu và thực hành chỉnh xương khớp trong 4 năm học ở trường y trước khi tốt nghiệp.

Trường y và đào tạo bác sĩ ở Mỹ  - Ảnh 2.

Tác giả bài viết là Ellie Phương Nguyễn - Phó giáo sư Trường y khoa LECOM - Ảnh: NVCC

Đăng ký 16.000 hồ sơ, chỉ nhận 1.000 - 2.000 sinh viên y khoa

Một kết quả nghiên cứu của Đại học UCLA công bố năm 2023 về kết quả điều trị và phẫu thuật của 329.500 bệnh nhân trên 65 tuổi nhập viện trong giai đoạn 2016 - 2019 để đánh giá chất lượng chăm sóc và chữa trị giữa bác sĩ MD và DO.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra không có sự khác biệt đáng kể về kết quả điều trị, chi phí y tế hay mức độ hài lòng của bệnh nhân. Điều này cho thấy khả năng chuyên môn và cách thức đào tạo của MD và DO tương đương nhau.

Trường đào tạo bác sĩ bằng DO lớn nhất của Mỹ là Trường Lake Erie College of Osteopathic Medicine (LECOM) với 5 cơ sở ở 3 bang Pennsylvania, New York và Florida. LECOM chuyên đào tạo bác sĩ, dược sĩ và nha sĩ.

Riêng ngành bác sĩ, LECOM có tỉ lệ trung bình trên 90% đậu chứng chỉ hành nghề COMLEX ngay lần thi đầu tiên và trên 95% matching residency phân bổ nội trú cho giai đoạn thực tập nội trú residency.

Hằng năm LECOM nhận khoảng 16.000 hồ sơ nộp vào chương trình đào tạo bác sĩ DO nhưng chỉ nhận khoảng 1.000 - 2.000 sinh viên cho cả 5 cơ sở.

BÁC SĨ HUYỆN (Ký ức y tế 1985)

Hình chụp một BV huyện tương tự như BV Chi Lăng, Tịnh Biên

 (Bài viết năm 2004 đăng trong đặc san Hội Ngộ của khóa Y Sài Gòn 1974-1980) https://www.facebook.com/share/p/18oX9Eeffq/

Tôi về bệnh viện huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang năm 1985. Bệnh viện đóng tại thị trấn Chi Lăng, dưới chân núi Cấm. Đường từ Châu Đốc vào Chi Lăng độ 30 cây số, nhưng xe đò chạy khoảng gần 3 tiếng đồng hồ mới tới nơi! Xe nào xe nấy chất hàng chật kín trên mui, chiếm cả ghế hành khách, còn khách thì đu bay cửa trước cửa sau, may là xe chạy ì ạch nên không ai rớt xuống đường.
Xe ngừng nửa đường ở thị trấn Nhà Bàng, là trung tâm hành chánh cũ của huyện, trước kia một khu thương mại sầm uất vì có chợ trời biên giói cận với Cam bốt. Nhưng trận giặc Việt nam - Kampuchia 1980 tàn phá Nhà Bàng khá nhiều. Do vậy, huyện ủy và ủy ban Nhân dân dời vào Chi Lăng, cận một trung tâm huấn luyện cũ của quân đội Việt Nam cộng hoà. Từ Nhà Bàng đi Chi Lăng phải băng qua núi Két, nơi cảnh vật xinh tươi đột biến thành vùng đất khô cằn.
Từ bến xe Chi Lăng, tôi tìm ra ban Y tế-Thể dục Thể thao không khó vì thị trấn nhỏ xíu như chiếc khăn hỉ mũi. Đó là một căn phố mái tôn, vách cây, phủ đầy bụi. Bên hông là một khoảng đất trống với một cái bàn dài người ngồi lố nhố. Tôi vào trình diện. Trưởng ban Y tế đi họp trên tỉnh, chỉ có phó ban phụ trách Thể dục Thể thao đang ngồi ở bàn. Lúc đầu tôi tưởng ban đang làm việc, nhưng không, trên bàn thay vì giấy tờ công văn, là một dĩa đậu phọng rang muối, mấy cái ly, và một chai rượu đế to tướng! Anh Tập Phó ban xem giấy tờ tôi xong, liền rót 2 ly rượu đưa cho tôi, một ly gọi là chào sân và một ly chào bàn. Anh dặn uống xong mỗi ly phải lật úp ly xuống, cứ rớt một giọt rượu thì phải uống phạt thêm một ly. Tôi có uống bia và whisky trước đây, nhưng đó là lần đầu tiên tôi uống rượu đế. Thôi thì cũng phải dốc cho cạn. Sau đó tới màn giới thiệu từng người, mối người mừng tôi một ly. Rượu cay xè, không thấy ngon, nhưng chém chết không say cũng xĩnh. Rượu đế ở Tịnh Biên cất bằng khoai mì nên đục. Muốn trong, người ta bỏ vài giọt thuốc rầy, uống vào nghe thoang thoảng. Sau nầy khi đạt đến “trình độ”, tôi chỉ cần khè hơi, nếu ngửi thấy mùi formol là ngưng uống, nếu uống tiếp là cho “chó ăn chè” ngay.
Sau thủ tục đầu tiên, khi tôi đã hơi ngà, anh Tập cho tôi nằm nghĩ trên môt sạp chiếu, đợi anh trưởng ban về. Chiều tối hôm ấy, anh bác sĩ Chính, trưởng ban Y tế, đi họp về. Anh gọi tôi dậy, cơm nước, rồi dẫn ra quán uống nước sôi chanh đường cho giã rượu. Anh thuộc lớp chuyên tu trường Sài gòn, dễ thương, không thích nói chuyện chính trị, nhưng cũng thích rượu chè như ai. Anh là trưởng ban Y tế kiêm giám đốc bệnh viện huyện. Còn tôi là bác sĩ thứ nhì của huyện, được phong chức “phó giám đốc” bệnh viện. Đêm ấy tôi ngủ tại ban để sáng hôm sau làm việc.
Sáng hôm sau anh Chính dẫn tôi đi trình diện huyện ủy, ủy ban rồi xuống bệnh viện. Thật ra bệnh viện chỉ cách ban Y tế độ trăm thước, đi bộ chưa đầy 5 phút. Đó là một bệnh viện nghèo nhất trong tỉnh An Giang. Bệnh viện lấy một trường tiểu học cũ và “tịch thâu” vài nhà dân ở chung quanh để làm phòng hành chánh, kho thuốc và chổ nhân viên ăn ở. Bệnh viện không có hàng rào, trâu bò chó ngựa qua lại đều được.
Phòng bệnh thì giống phòng học, chỉ khác là không có bàn học mà là giường bệnh. Giường bằng sườn sắt, vạt cây, lót chiếu, nằm xuống là bị rệp cắn ngay. Rệp là một “đại nạn” khó lòng tảo thanh trong mấy năm tôi ở bệnh viện. Thôi thì thay chiếu mới, đem giường ra phơi nắng, tạt nước sôi, xịt thuốc rầy... đủ thứ rồi mèo lại hoàn mèo, vì bệnh nhân là nguồn cung cấp rệp. Đêm đầu tiên tôi ngủ trong bệnh viện bị rệp cắn sưng mình trong khi các nhân viên ngủ tỉnh queo, tôi đoán chắc vì mình là ma mới nên chúng tấn công quá sức. Về sau mấy y sĩ trong bệnh viện mách kế: đặt giường xa vách, giường không chạm vào đâu cả, trừ 4 chân giường chạm đất. Trên 4 chân giường đó, thường xuyên chấm thuốc rầy đậm đặc để triệt tiêu đường tấn công của rệp. Quả hiệu nghiệm!
*******
Huyện Tịnh Biên lúc ấy có khoảng 70 ngàn dân và thị trấn Chi Lăng có khoảng 5000 dân. Thị trấn đất cát, nhà nhà phải xây hồ chứa nước mưa vì mùa khô các giếng nước đều cạn. Mùa khô nước hiếm, sáng rửa mặt bằng một ly “xây chừng” mà thôi. Thức dậy nuốt nước miếng nghe cát trong cổ họng. Muốn tắm phải lại nhà dân có bồn nước lớn, hoặc lái xe cứu thương ra Châu Đốc tắm. Mùa mưa mát mẽ khí hậu dễ chịu, nhưng sốt rét dữ hơn. Ổ sốt rét nằm trong núi Cấm. Thị trấn không có điện công cộng, không có nước máy, hệ thống cống thô sơ lộ trên mặt đất. Ngoài huyện ủy, ủy ban, cửa hàng ăn uống và một vài nhà dân có máy điện riêng, hầu hết dùng bình ắc quy để thấp đèn. Bệnh viện có máy phát điện nhưng hư lên hư xuống, ủy ban không chịu sửa, không mua máy mới, nên phải thắp đèn dầu. Trong 3 năm tôi ở đó, tổng cộng số đêm có điện khoảng chưa đầy 6 tháng.
Bệnh viện huyện Tịnh Biên giấy tờ chính thức là 50 giường bệnh, nhưng số giường thực thụ chưa tới 20, chủ yếu là phòng cấp cứu và Phòng sanh- Kế hoạch gia đình. Nhân viên có hơn 50, hơn 30 mạng là y sĩ. Y tá có 4, 1 tài xế, 1 hộ lý. số còn lại là dược tá, kế toán, hành chánh. Thiệt giống quân đội của các nước Nam Mỹ thời xưa, số tá nhiều hơn số lính! Anh Chính, mang tiếng giám đốc bệnh viện, nhưng lúc nào cũng trên phòng Y tế, giao tất cả chuyện điều trị cho tôi. Bệnh viện có một đảng viên duy nhất là y sĩ sản, làm phó giám đốc chính trị. Chị Giỏi là cách mạng gốc nhưng không cự nổi đám con ông cháu cha trong bệnh viện. Vì trong đám y sĩ, có gần mươi mạng là con, dâu, rể của bí thư, huyện ủy, chủ tịch, ủy ban... Đám y sĩ trẻ nầy tốt nghiệp trường trung học y tế Long Xuyên, được các SBCK khoá 1, 2, 3 dạy dỗ nên rất lễ phép, gọi tôi bằng thầy. Còn đám y sĩ lớn và nhân viên khác thi gọi tôi là “bác” (chữ tắt của bác sĩ). Còn đám thiệt thân thi gọi tôi là anh. Tất cả y sĩ sau 2 năm làm việc đều mong được đề cử đi học bác sĩ chuyên tu, lẽ dĩ nhiên đám con cháu cán bộ, cán cuốc được ưu thế hơn.
Tệ nạn lớn nhất trong huyện và tỉnh là nạn uống rượu. Có thể nói ngày nào tôi ở Tịnh Biên đều có nhậu. Thôi thì ban Y tế (sau đổi tên thành phòng Y tế), công an, ngân hàng, phòng giáo dục, phòng tài chánh, đài phát thanh, trường quân chính, rồi đám giỗ, đám ma, đám cưới v.v... Mà không nhậu không được, ai không nhậu sẽ bị tẩy chay, không sao liên hệ tốt với ban, ngành, đoàn thể được. Tốt nhất là vào bàn nhậu rai rai rồi giả bộ say, rồi được tha về. Tệ nạn nhậu phát triển đến nỗi trên tỉnh phải ra thông báo cấm cán bộ uống rượu trên 18 độ. Mọi người kháo nhau uống 1 “độ” là say đủ chết rồi, cần gì uống tới 18 “độ”! Mấy năm ở Tịnh Biên, tôi từ một người không biết rượu đế là gì thành một tay uống cũng kha khá. Nhân một dịp ra bệnh viện Châu đốc, tôi cùng 3 người bạn hoc là BS Hoa Nghĩa Hiệp, Chung Quốc Cường, Nguyễn Việt Dũng cưa một chai Johny Người-Đi-Bộ nhãn đỏ, rót chia đều mỗi đứa một phần tư. Chắc là rượu giả, đêm ấy 3 anh kia, người thì ói mửa, người thì nhức đầu, còn một anh thì đi re re suốt đêm. Phần tôi thì ngủ tỉnh queo tới sáng!
Công việc ở bệnh viện nặng về phần quản lý hơn là chuyên môn. Các y sĩ ở phòng khám và phòng cấp cứu nhận bệnh, có gì thắc mắc thì chạy đi hỏi tôi. Bệnh nặng thì cho xe chở ra Châu Đốc, còn bệnh nhẹ thi cho về nhà nằm. Ít ai chịu ở bệnh phòng vì không có điện, không có nước, không có cầu tiêu, lại có rệp. Thật ra bệnh viện có 3 cầu vệ sinh cho bệnh nhân nhưng thường xuyên bị tắc nghẹt vì người ta cứ bỏ giây “nhật trình” vô cầu. Nhân viên được 2 cầu, có khóa. Tuy vậy cầu vẫn bị nghẹt hoài vì thiên hạ chạy vô xin đi. Đặc biệt trụ sở huyện ủy và là nhà ở của bí thư không có câu tiêu! Ai muốn đi thì lấy xẽng ra vườn làm nhiệm vụ. Đi cầu khó vậy đó, nên đi tiêu khỏi phải nói. Tôi mắc bệnh tiểu đường ngay lúc đến Tịnh Biên.
Cạnh bệnh viện là đội Vệ sinh Phòng dịch. Đội có hai nhiệm vụ chính là phun thuốc diệt muỗi trừ sốt rét và chích ngừa. Trưởng đội đi học chuyên tu bác sĩ 3 năm mới về. Phó đội là anh Bảy Vĩnh, sĩ quan trợ y của quân đội VNCH cũ. Anh Vĩnh rất tháo vát và vui tính. Anh hay rủ tôi đi xem phòng chống dịch. Có lần anh rủ tôi đến nhà máy nước đá để lãnh nước đá về bảo quản thuốc chích ngừa. Giám đốc nhà máy nước đá là một người gốc Hoa, trước kia là chủ thật sự của nhà máy. Tôi có thắc mắc tại sao ông nầy vẫn “bám trụ” sau vụ đánh tư sản mại bản, anh Bảy Vĩnh cho biết vì ông có gốc gác lâu đời với đám nằm vùng. Sở dĩ tôi nhớ ông nầy vì ông có tên rất đẹp là Bành Hán Tiên, nhưng muốn chọc cười, anh Bảy gọi ông là Bành “Háng” Tiên!
Thỉnh thoảng có mấy anh ở bệnh viện đa khoa trung tâm ở Long Xuyên về Tịnh Biên kiểm tra như anh Khương Trọng Sửu (SBCK khóa 1), tôi dẫn anh lên núi Cấm chơi. Đậu xe gắn máy dưới chân núi, chúng tôi và một vài y sĩ theo đường mòn lên chùa trên đỉnh núi. Đường đi độ khoảng mươi cây số nhưng rất dốc, phải nghỉ chân 2-3 lần. Dọc đường đi rải rác có mấy phụ nữ lớn tuổi đi hành hương. Bà nào bà nấy thở phì phò nhưng không dám than mệt vì sợ “cõi trên” quở. Gặp ai chúng tôi đều hỏi “Khỏe không bác?” Các bà đều khều khào trả lời “Khỏe! Khỏe!” Lên đến đỉnh có thể thấy núi Tượng và đất Cam bốt. Địa thế cao và không khí lạnh giúp núi cấm làm chổ trồng trái su (chou), địa điểm thứ hai ở miền Nam ngoài Đà Lạt sản xuất được su. Chúng tôi vòng vòng quanh chùa, tìm chỗ thanh vắng, trải đồ ăn, vài chai rượu (không thể thiếu được nếu gọi là dân Tịnh Biên), rồi quay đầu gà. Đầu gà quay trúng ai thì người đó phải uống một ly, thiệt là unfair! Nhậu xong, trên đường xuống núi, chúng tôi băng qua vườn cây sầu riêng. Cây sầu riêng rất cao và người ta bảo rằng trái sầu riêng chỉ rụng về đêm. Do đó phải đội nón sắt nếu muốn đi qua vườn sầu riêng ban đêm. (Điều đó tôi không kiểm chứng được). Một điều tôi học được thêm là đi xuống, tuy nhanh hơn, nhưng khó hơn đi lên nhiều. Chúng tôi hầu như phải nhảy liên tục, nếu ngừng lại hoặc đi chậm lại là có thể té dập mặt ngay. Về đến bệnh viện trời sập tối nhưng ai nấy còn khoẻ lắm, anh Sửu mời tôi và đám y sĩ đi uống bia thứ thiệt (thứ tôi không dám rớ tới, lâu nay chỉ uống toàn bia trái cây). Sáng hôm sau anh về Long Xuyên, còn tôi phải lết vài ba ngày vì hai chân đau và mỏi đừ. Hỏi ra ai đi núi Cấm lần đầu tiên đều bị như vậy hết. Anh Sửu chắc cũng lết một vài ngày.
Công việc chuyên môn trong bệnh viện không có chi phức tạp. Hầu hết là bệnh nhức đầu (do rượu?), nóng sốt, tiêu chảy, và sốt rét. Con nít thì sốt xuất huyết, nghi ngờ là chở lên Châu Đốc ngay. Nghe nói có một đêm ở bệnh viện Long Xuyên, hơn 20 trẻ chết vì sốt xuất huyết. Tai nạn lớn nhất khi tôi ở Tịnh Biên là vụ nổ đầu đạn làm bị thương 5,6 người. Một phụ nữ bị tràn máu màng phổi cấp tính, thở khò khè đứt hơi khi vô tới phòng cấp cứu. Bệnh viện không có dụng cụ chi hết, tôi phải dùng ống thông tiểu Foley cở lớn nhét vào khoang màng phổi, đầu ống buộc vào bịt ny-lông để “seal off’ giống như các thầy trong trường dạy. Cô nầy được xe cấp cứu chở ra Châu Đốc, sống. Anh BS Kiên SBCK1 mổ ca đó, có gởi lời khen tôi xử trí đúng (anh trước làm Ngoại Thần kinh ở Chợ Rẩy, vì đi vượt biên nên bị đuổi, anh được bệnh viện Châu Đốc nhận). Anh chỉ khen suông thôi, còn tôi sau nầy được một chầu nhậu do chồng cô ta đãi.
Bệnh viện Tịnh Biên sở dĩ tiêu điều, không được chăm sóc là nằm trong “ý đồ” của cán bộ tỉnh và huyện. Họ muốn xin hội Hồng Thập Tự quốc tế xây một bệnh viện lớn ở Nhà Bàng. Mà hội Hồng Thập Tự cũng muốn giúp, vì là địa điểm chiến lược đón làn sóng tị nạn từ Kampuchia sang nếu tình hình biến động. Mấy năm tôi ở đó, các cán bộ tranh cãi hoài về địa điểm xây cất, tới lúc tôi đi rồi chỉ có lễ đặt viên đá đầu tiên! Nhưng chính nhờ chuẩn bị cho bệnh viện mới, tôi được gởi lên Long Xuyên 6 tháng học mổ, quen được nhiều anh ở bệnh viện tỉnh. Lúc đầu tôi đứng phụ, sau đứng chính, mổ được khoảng trăm cái ruột thừa! Anh Hoàng trưởng khoa Ngoại nói đúng, không có ruột thừa nào giống nhau cả, giống như mặt người ta vậy. (Anh đi học tập về, ra đứng ngoài chợ bán thịt, bị công an rượt bắt hoài, về sau mới được cho vào bệnh viện làm).
Ngoài 3 bạn Hiệp, Cường và Dũng ở Châu Đốc, tôi có đi thăm Phan Văn Xái ở Phú Châu (Tân Châu), nhậu cháo rắn hổ. Thịt rắn hổ còn ngon hơn thịt gà. Tôi gặp Nguyễn văn Đức (phó ban đại diện năm 74-75) vài lần. Đức bị đuổi ra khỏi trường năm 75 vì lý do chánh trị, anh về Phú Châu ở, được một anh bác sĩ đàn anh nâng đỡ, gởi cho đi học lại. Có lần Đức đến nhà tôi ở Sài gòn nhân dịp tôi về thăm vợ con, hai đứa nằm nói “chuyện đời” suốt đêm.
******
Năm 1987, bộ đội Việt Nam từ Kampuchia (giả bộ) rút về, dân vùng biên giói phải đi đào một con kênh mới song song với kinh Vĩnh Tế, chạy dài từ Tri Tôn ra Châu Đốc. Trên công trường hằng ngày có độ hơn 5000 người, tất cả công việc đều làm bằng tay, không có một máy ủi đất nào! Toàn thể dân bệnh viện và phòng Y tế đều đi đào kinh trong 10 ngày, chỉ chừa vài người ở lại. Không phải sáng đi chiều về mà phải ở luôn công trường, đào cả ban đêm vì dân bệnh viện sức yếu tay mềm, mà công việc thì được giao khoán. Đó là lần “oải” nhớ đời, mặc dù tôi được các nam y sĩ phụ lực tận tình. Tôi ngủ trong cảnh màn trời chiếu đất, sợ sốt rét muốn chết. Nhưng may địa điểm công trường rất gió, ít muỗi. Còn nước kinh thì uống không nổi, mặc dầu đã đun sôi nhưng đầy cặn, vị thì mặn và hôi. Về sau toán bệnh viện tìm ra 2 món giải khát “cao cấp” là dưa hấu và nước thốt nốt. Dưa hấu không ngọt, nhưng ăn đở khát. Còn nước thốt nốt thì tuyệt, mặc dầu tôi rất nghi ngờ về mặt vệ sinh. Nước thốt nốt ngót ngót, mùi thơm giống như shop cây phong (maple) ở Canada. Dân Khmer cất nước cô đặc lại làm đường thốt nốt. Cây thốt nốt thuộc họ cây cọ, có vẻ mạnh mẽ và lớn hơn cây dừa. Cây dừa 5 năm đã có trái, còn cây thốt nốt phải hơn 30 năm! Khmer đỏ có câu: “chỗ nào có cây thốt nốt là chỗ ấy thuộc đất Khmer”. Mà xứ Tịnh Biên thì ở đâu cũng có cây thốt nốt.
Trong bệnh viện tôi cũng có vài y sĩ gốc Miên, có mời tôi về nhà nhậu chơi, nhưng đãi ăn món mắm bò hóc thì tôi chịu thua, tôi thích món cá lóc nướng trui dầm nước mắm hơn. Không biết lúc “cáp duồn” ra sao chứ dân Miên nói chung hiền lành, tánh tình cũng như người Việt. Con gái Miên lai Tàu rất đẹp, tục gọi là “đầu gà đít vịt”, có nhiều ở thị trấn Tri Tôn. Chùa Miên đẹp, kiến trúc chịu ảnh hưởng Ấn độ, còn chùa Việt thì theo kiểu Trung Hoa. Óc thẩm mỹ dân Miên thì khác hẳn ta. Người Miên thích màu sặc sỡ, không chịu kiểu màu dịu “tone sur tone”. Tôi thấy dân Miên ở Tịnh Biên thích màu đỏ đi chung với màu xanh lá mạ. Có lần tôi thấy một anh cỡi xe đạp ngang qua bệnh viện, lúc đi ngang thì chiếc xe màu đỏ, lúc đi về thì một chiếc xanh lá cây. Hóa ra thì chỉ có một chiếc xe đạp thôi, nhưng sơn màu khác bên 2 bên khung xe!
Sau 3 năm ở, nhờ cô Hồ Hải, tôi được chấp thuận về làm gây mê bệnh viện Chợ Rẫy, có giám đốc Trịnh Kim Ảnh ký tên đàng hoàng. Giấy tờ chuyển từ huyện lên tỉnh, giám đốc sở Y tế An Giang phê “không chở cũi về rừng!”, bắt tôi làm phòng mổ bệnh viện Long Xuyên. Thiệt là phép vua thua lệ làng. Thế là tôi đổi về Long Xuyên, làm bác sĩ tỉnh, mở sang một “bước ngoặt” mới. Chuyện bác sĩ huyện đến đây chấm dứt. Còn chuyện bác sĩ tỉnh để hẹn khi khác.
Đêm cuối cùng ở huyện, bệnh viện và phòng y tế đãi tôi một buổi tiệc tiển. Ai nấy cũng đòi uống với tôi một ly rượu đế, kể cả các cô y sĩ. Tôi uống thiệt tình, không giả bộ say. Tiệc tàn ai nấy đi ngủ nhưng tôi thì thao thức đến sáng, không sao ngủ được. Những kỷ niệm vui buồn chập chờn hiện trong trí nhớ. Tờ mờ sáng xe huyện đến rước chở tôi lên tỉnh. Tôi rời đất khổ buổi sáng đầy sương ấy.
Nguyễn Đình Vân
4/2004

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

Tóm Tắt Khái Quát: Đào Tạo Bác Sĩ Nội Trú Tại Mỹ

 

Chia sẻ từ Dr. Christina Nguyen: https://www.facebook.com/share/p/19omDwgZHH/

1. Điểm khác biệt lớn nhất: Vừa học vừa có lương

  • Không tốn học phí: Khác với suy nghĩ thông thường rằng "đi học là mất tiền", bác sĩ nội trú tại Mỹ không phải đóng học phí.

  • Được trả lương ngay từ năm đầu: Bạn làm việc dưới tư cách bác sĩ (có sự giám sát) và nhận lương ổn định.

  • Quyền lợi đi kèm: Ngoài lương còn có bảo hiểm (y tế, nha khoa, nhân thọ...), phép năm có lương, phụ cấp ăn uống, sách vở, hội nghị và chế độ hưu trí.

2. Các thuật ngữ & Mức lương thực tế (Số liệu 2026)

  • PGY (Post-Graduate Year): Năm đào tạo sau tốt nghiệp Y khoa.

    • PGY-1: Nội trú năm 1.

    • PGY-2, PGY-3...: Các năm tiếp theo (tùy chuyên ngành).

  • Mức lương PGY-1: Dao động từ $60,000 – $100,000/năm tùy bệnh viện và chi phí sinh hoạt từng khu vực.

    • Ví dụ năm 2026: Baylor ($71.7k/năm), UC Irvine ($90.1k/năm), Stanford ($96.9k/năm).

    • So sánh: Mức lương này bằng hoặc cao hơn thu nhập trung bình của mọi ngành nghề tại Mỹ (~$69,800/năm). Lương tăng dần qua từng năm (PGY-1 $\rightarrow$ PGY-5).

3. Thu nhập sau khi hoàn thành Nội trú

Sau khi tốt nghiệp và chính thức hành nghề độc lập, thu nhập tăng đột biến tùy chuyên ngành:

  • Nhi khoa: ~$273,000/năm

  • Y học Gia đình / Nội khoa / Tâm thần: ~$325,000 – $350,000/năm

  • Sản Phụ khoa / Ngoại Tổng quát: ~$420,000 – $501,000/năm

  • Tim mạch / Chẩn đoán hình ảnh / Ngoại Thần kinh: ~$600,000 – $829,000+/năm

Lời kết:

Tấm vé Match vào chương trình nội trú Mỹ không chỉ là cơ hội học tập chuẩn quốc tế, mà còn là cột mốc khởi đầu giúp bạn tự chủ tài chính ngay từ năm đầu tiên (PGY-1) trước khi bước vào giai đoạn hành nghề chính thức.

 

Một điều về đào tạo nội trú ở Mỹ mà nhiều người Việt không biết - Chia sẻ từ một bác sĩ tại Mỹ
Khi nghe một bác sĩ nói rằng mình Match — tức là trúng tuyển vào chương trình đào tạo nội trú tại Mỹ — và sẽ tiếp tục đào tạo thêm từ 3 năm trở lên, nhiều người thường nghĩ:
“Học thêm từng ấy năm nữa thì chắc tốn rất nhiều tiền.”
Điều này cũng khá dễ hiểu.
Bởi vì khi nhắc đến “đi học” hay “đào tạo”, chúng ta thường nghĩ đến học phí và những năm tiếp tục phải đầu tư tài chính.
Nhưng hệ thống đào tạo bác sĩ nội trú ở Mỹ có một điểm rất khác.
Bạn không những không phải đóng học phí cho chương trình đào tạo nội trú, mà bạn còn được bệnh viện trả lương trong suốt những năm đào tạo.
Và điều có thể khiến nhiều người bất ngờ hơn nữa là:
Ngay từ năm nội trú đầu tiên, mức lương đã có thể tương đương hoặc cao hơn mức lương trung bình của người lao động tại Mỹ.
Vậy năm 2026, bác sĩ nội trú ở Mỹ thực sự được trả bao nhiêu?
Trước tiên, PGY-1, PGY-2… nghĩa là gì?
Trong chương trình nội trú, người ta thường dùng chữ PGY — Post-Graduate Year, tức năm đào tạo sau khi tốt nghiệp Y khoa.
PGY-1 = bác sĩ nội trú năm 1
PGY-2 = bác sĩ nội trú năm 2
PGY-3 = bác sĩ nội trú năm 3
Và cứ tiếp tục như vậy tùy vào độ dài của chương trình đào tạo.
Vậy bác sĩ nội trú năm 1 trong năm 2026 được trả bao nhiêu?
Không có một mức lương chung cho toàn nước Mỹ. Mỗi bệnh viện và hệ thống đào tạo có thang lương riêng, và mức lương cũng khác nhau tùy khu vực.
Nhưng theo thống kê, ngay từ năm nội trú đầu tiên, một bác sĩ tại Mỹ có thể nhận khoảng $60,000–$100,000/năm, tùy chương trình và nơi đào tạo.
Sau đây là mức lương PGY-1 — bác sĩ nội trú năm 1 — cho năm đào tạo 2026–2027 tại một số hệ thống:
Baylor College of Medicine: khoảng $71,672/năm
University of California, Irvine: khoảng $90,072/năm
Stanford Health Care: khoảng $96,949/năm
Và mức lương thường tăng dần theo từng năm đào tạo.
Ví dụ tại Baylor College of Medicine:
PGY-1 — nội trú năm 1: $71,672
PGY-2 — nội trú năm 2: $74,354
PGY-3 — nội trú năm 3: $76,366
PGY-4 — nội trú năm 4: $79,450
PGY-5 — nội trú năm 5: $83,325
Tại University of California, Irvine:
PGY-1 — nội trú năm 1: $90,072
PGY-2 — nội trú năm 2: $92,690
PGY-3 — nội trú năm 3: $95,897
PGY-4 — nội trú năm 4: $99,246
PGY-5 — nội trú năm 5: $102,856
Những con số này cao hay thấp so với thu nhập tại Mỹ?
Đây mới là phần khá thú vị.
Theo số liệu mới nhất của Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ, mức lương trung bình của tất cả các ngành nghề tại Mỹ là:
👉 $69,770/năm.
Như vậy, trong những ví dụ trên:
Bác sĩ nội trú năm 1 tại Baylor: ~$71,700/năm
Bác sĩ nội trú năm 1 tại UC Irvine: ~$90,100/năm
Bác sĩ nội trú năm 1 tại Stanford: ~$96,900/năm
Trong khi:
Mức lương trung bình của tất cả ngành nghề tại Mỹ: ~$69,800/năm.
Nói cách khác, ngay từ năm đầu tiên của chương trình nội trú, mức lương tại những chương trình này đã xấp xỉ hoặc cao hơn mức lương trung bình của tất cả ngành nghề tại Mỹ.
Tất nhiên, chi phí sinh hoạt giữa California, Texas hay những tiểu bang khác rất khác nhau, nên cùng một mức lương sẽ có sức mua khác nhau.
Nhưng có một điều đáng chú ý:
Trong thời gian vẫn đang được đào tạo chuyên môn, bác sĩ nội trú đã vừa làm việc với tư cách bác sĩ, vừa có nguồn thu nhập ổn định và mức lương thường tăng lên theo từng năm đào tạo.
Ngoài lương còn có các quyền lợi khác
Tùy từng chương trình, bác sĩ nội trú còn có thể được hưởng:
* Bảo hiểm y tế
* Bảo hiểm nha khoa và thị lực
* Bảo hiểm nhân thọ
* Bảo hiểm khi mất khả năng lao động
* Ngày nghỉ có lương
* Hỗ trợ tiền ăn
* Trợ cấp học tập
* Hỗ trợ sách và hội nghị
* Quyền lợi hưu trí
* Và tại một số chương trình còn có các khoản hỗ trợ khác.
Vì vậy, tiền lương chưa phải là toàn bộ gói quyền lợi mà bác sĩ nội trú nhận được.
Và đây mới chỉ là thu nhập trong thời gian đào tạo
Sau khi hoàn thành chương trình nội trú và bước sang giai đoạn hành nghề sau đào tạo, bức tranh thu nhập thay đổi rất đáng kể.
Theo Báo cáo Thu nhập Bác sĩ Doximity 2026, mức thu nhập trung bình được báo cáo của một số chuyên ngành tại Mỹ là:
Y học Gia đình: khoảng $325,040/năm
Nội khoa: khoảng $339,274/năm
Nhi khoa: khoảng $273,665/năm
Ngoại Tổng quát: khoảng $501,003/năm
Một số chuyên ngành khác có mức thu nhập trung bình còn cao hơn:
Tâm thần: khoảng $350,786/năm
Sản Phụ khoa: khoảng $420,859/năm
Tim mạch: khoảng $604,635/năm
Chẩn đoán hình ảnh: khoảng $609,684/năm
Ngoại Thần kinh: khoảng $829,161/năm
Thu nhập thực tế còn phụ thuộc vào chuyên ngành, địa phương, kinh nghiệm, nơi làm việc và mô hình hành nghề.
Nhưng nếu nhìn toàn bộ bức tranh, chúng ta sẽ thấy một sự chuyển tiếp khá rõ:
PGY-1 — bác sĩ nội trú năm 1: trong các ví dụ trên khoảng $72,000–$97,000/năm
Mức lương tăng dần theo từng năm đào tạo
Sau khi hoàn thành đào tạo: nhiều chuyên ngành hiện có mức thu nhập trung bình khoảng $270,000–$500,000+ mỗi năm, và một số chuyên ngành cao hơn nữa.
Đào tạo nội trú chỉ là một giai đoạn của cả sự nghiệp
Khi bắt đầu chương trình nội trú tại Mỹ, bạn vừa tiếp tục được đào tạo chuyên môn, vừa trực tiếp tham gia chăm sóc bệnh nhân với tư cách một bác sĩ, và đồng thời được trả lương trong quá trình đó.
Sau khi hoàn thành đào tạo, bạn bước sang một giai đoạn mới của sự nghiệp với mức thu nhập và những cơ hội phát triển hoàn toàn khác.
Vì vậy, với một bác sĩ tốt nghiệp ngoài nước Mỹ, khoản lương đầu tiên với chức danh:
Bác sĩ nội trú — Resident Physician có lẽ mang một ý nghĩa đặc biệt.
Nó không chỉ là khoản lương đầu tiên.
Nó còn là dấu mốc cho thấy bạn đã chính thức bước vào con đường đào tạo và hành nghề bác sĩ trong hệ thống y tế Mỹ.
Bạn có suy nghĩ hay câu hỏi gì về những chia sẻ này? Hãy comment cho mình biết nhé.
Hãy chia sẻ nếu bạn có người thân và bạn bè trong ngành Y.
Dr. Christina Nguyễn