Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

Chuyên đề 'Trăm năm di sản Ngô Viết Thụ': Ngô Viết Thụ – Các tác phẩm tiêu biểu

 

LTS: Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (1926-2000) là một trong những bậc thầy kiến trúc của Việt Nam thế kỷ XX. Cả cuộc đời ông là sự kết hợp hoàn hảo giữa nền tảng Nho học Á Đông sâu sắc và tư duy kiến trúc hiện đại phương Tây.

    Di sản của KTS Ngô Viết Thụ không chỉ bao gồm số lượng những công trình ông đã xây dựng trên khắp xứ sở, mà còn ở cách ông tìm kiếm bản sắc Việt trong dòng chảy hiện đại, ở trách nhiệm với cảnh quan thiên nhiên và cộng đồng, và bao trùm lên tất cả là lẽ sống vì quê hương, đất nước.

    *     *     *

    KIẾN TRÚC

    Dinh Độc Lập (Di tích quốc gia đặc biệt): 

    Dinh Độc Lập là một công trình kiến trúc tiêu biểu do Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế. Công trình được khởi công ngày 1.7.1962 và khánh thành ngày 31.10.1966. Công trình mang phong cách hiện đại kết hợp hài hòa với tinh thần kiến trúc truyền thống Á Đông, thể hiện qua tổng thể mặt bằng, đường nét, biểu tượng và không gian sử dụng.

    Phác thảo Dinh Độc Lập của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ năm 1962.


    Tổng thể mặt bằng Dinh được bố trí theo hình chữ CÁT (吉), tượng trưng cho sự tốt lành và may mắn. Trung tâm Dinh là Phòng Trình Quốc thư. Tầng thượng được gọi là Tứ phương vô sự lầu, hình chữ KHẨU (口), thể hiện tinh thần đề cao giáo dục và tự do ngôn luận. Chữ Khẩu khi kết hợp với cột cờ chính giữa tạo thành hình chữ TRUNG (中), hàm ý đề cao đức trung kiên trong xây dựng dân chủ.

    Các đường nét mái hiên và ban công tạo thành hình chữ TAM (三), gợi quan niệm “dân chủ hữu tam”: Nhân – Minh – Võ, mong muốn đất nước phát triển dựa trên những con người đủ phẩm chất, trí tuệ và bản lĩnh. Ba nét gạch ngang kết hợp với nét sổ dọc hình thành chữ VƯƠNG (王); thêm kỳ đài phía trên tạo nên hình chữ CHỦ (主), tượng trưng cho chủ quyền quốc gia. Toàn bộ mặt tiền với ban công tầng 2, tầng 3, mái hiên và hai cột gỗ tạo thành chữ HƯNG (興), mang ý nghĩa cầu chúc quốc thái dân an, đất nước hưng thịnh.

    Thủ pháp thiết kế Dinh Độc Lập của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.


    Vẻ đẹp kiến trúc của Dinh còn được thể hiện qua rèm hoa đá bao quanh tầng 2, mô phỏng những đốt trúc thanh tao – một hình ảnh được cách điệu từ “cửa bàn khoa” của cung điện ở Cố đô Huế. Rèm hoa đá không chỉ tạo điểm nhấn thẩm mỹ mà còn giúp điều hòa ánh sáng tự nhiên.

    Rèm hoa đá xung quanh tầng 2 của Dinh Độc Lập.


    Không gian nội thất bên trong sử dụng các đường nét thẳng, mạch lạc, thể hiện quan niệm “chính đại quang minh”. Các hành lang, đại sảnh và phòng chức năng được bố trí cân đối, trang nhã và phù hợp với công năng sử dụng. 

    Khu nhà chính hình chữ T có diện tích mặt bằng 4.500 m², cao 26m, nằm ở vị trí trung tâm khu đất. Công trình gồm 03 tầng lầu, 02 gác lửng, 01 sân thượng, 01 tầng nền và 01 tầng hầm, với tổng diện tích sử dụng 20.000 m² với gần 100 phòng, mỗi phòng đều có chức năng và phong cách trang trí riêng phù hợp mục đích sử dụng. 

    Phòng họp Hội đồng nội các.

    Phòng Trình Quốc thư.

    Phòng Giải trí.

    Tứ phương vô sự lâu.


    Phía trước Dinh là thảm cỏ hình oval đường kính 102m, mang lại cảm giác thoáng đãng và êm dịu cho du khách. Chạy dọc chiều ngang đại sảnh là hồ nước hình bán nguyệt, trong hồ thả sen và súng, gợi nhớ hình ảnh hồ nước thanh bình tại các đình, chùa cổ của Việt Nam.

    Toàn cảnh Dinh Độc Lập. Ảnh: Znews


    Xung quanh Dinh là hệ thống thảm cỏ, vườn cây cổ thụ, cây kiểng quý và bốn sân quần vợt phía sau khu nhà chính, góp phần tạo cảnh quan xanh mát và hài hòa cho toàn bộ di tích.

    Cây cổ thụ và không gian làm sân chơi cho trẻ phía sau Dinh. Ảnh: Trung Dũng


    Ngoài khối nhà chính, tại góc phải hướng đường Nguyễn Du có một tòa nhà 2 tầng mang phong cách kiến trúc Pháp, được xây dựng cùng thời với Dinh Norodom. Hiện nay, công trình này đang được sử dụng để trưng bày chuyên đề “Từ Dinh Norodom đến Dinh Độc Lập”.

    Tòa nhà góc đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và dường Nguyễn Du.


    Phía góc trái theo đường Nguyễn Thị Minh Khai có một nhà bát giác đường kính 4m, xây trên gò đất cao, không xây tường bao, mái ngói cong cổ kính, là không gian nghỉ mát và thư giãn.

    Nhà bát giác góc đường Nguyễn Thị Minh Khai và Nam Kỳ Khởi Nghĩa.


    Khuôn viên Dinh có diện tích 120.000 m² (300m × 400m), được giới hạn bởi bốn tuyến đường chính:

    • Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa ở phía Đông Bắc (mặt chính của Dinh);
    • Đường Huyền Trân Công Chúa ở phía Tây Nam (mặt sau của Dinh);
    • Đường Nguyễn Thị Minh Khai ở phía Tây Bắc (bên trái Dinh);
    • Đường Nguyễn Du ở phía Đông Nam (bên phải Dinh).

    Kiến trúc Dinh Độc Lập là một tổng thể hài hòa giữa hiện đại và truyền thống, thể hiện tư duy sáng tạo của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ. Công trình không chỉ có giá trị thẩm mỹ mà còn mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc về triết lý Á Đông, chủ quyền quốc gia và khát vọng hòa bình – thịnh vượng. (Nguồn: dinhdoclap.gov.vn)

    Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt (Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt):

    Trung tâm được xây dựng tại một khu vực có diện tích 21 ha bên đường Nguyên Tử Lực, phía đông bắc trung tâm Đà Lạt. Công trình được khởi công xây dựng từ tháng 4.1961 và được hoàn thành vào tháng 12.1962.

    Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt. Ảnh: Wikipedia


    Đồ án Trung Tâm Nguyên Tử Lực Đà Lạt được phát triển từ năm 1958, do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ cùng các kiến trúc sư phụ tá Nguyễn Mỹ Lộc, Phạm Quỳnh Lân và Vũ Tòng chịu trách nhiệm thiết kế công trình. Trung tâm công trình được đặt loại lò công nghệ TRIGA Mark II do hãng General Atomics Corporation của Mỹ chế tạo.

    Lò phản ứng được đặt tên là DLR-I (Da Lat Reactor-I), đã đạt trạng thái tới hạn vào ngày 26.2.1963 và chính thức đi vào vận hành ngày 3.3.1963 với công suất 250 kW.

    Mô hình Trung Tâm Nguyên Tử Lực Đà Lạt. Ảnh: NgoViet Library

    Minh họa của Leo - Tản Mạn Kiến Trúc.


    Theo đồ án của KTS Ngô Viết Thụ, lò phản ứng DLR-I (Da Lat Reactor-I) sẽ nằm trong mái vòm bê tông hình tròn có đường kính 20m. Xung quanh mái vòm chứa lò nguyên tử trung tâm là các phòng thí nghiệm vật lý và hoá học.

    Khoảng trống giữa khung tròn và tòa nhà hình ống chứa lò nguyên tử được sắp đặt như một biểu tượng cho Bát Quái Đồ, trong đó có sự kết hợp giữa lối kiến trúc tối tân của thời đại nguyên tử và các âm hưởng cổ truyền.

    Mặt bằng khuôn viên bên trong Trung Tâm Nguyên Tử Lực ngày nay vẫn còn giữ được thiết kế theo mô hình Tiên thiên Bát quái đồ, với quẻ Càn hướng về phương Nam, phù hợp với câu trích từ Kinh Dịch: “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ, hướng minh nhi trị”,  tạm dịch: “Bậc thánh nhân quay mặt về phương Nam lắng nghe thiên hạ, hướng về cai trị sáng suốt”... (Nguồn: Tản Mạn Kiến Trúc)

    Công trình giáo dục – tôn giáo

    • Đại học Sư phạm Huế

    Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế được thành lập năm 1957, là một phân khoa thuộc viện Đại Học Huế. Trước năm 1975, Trường Đại học Sư phạm thuộc viện Đại học Huế là một cơ sở đào tạo giáo viên trung học duy nhất cho các tỉnh khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Sau ngày thống nhất đất nước, Trường Đại học Sư phạm được chính thức thành lập theo Quyết định số 426/TTg, ngày 27.10.1976 của Thủ tướng chính phủ, trực thuộc Bộ Giáo dục. Theo Nghị định 30/CP ngày 4.4.1994 của Thủ tướng Chính phủ, Trường Đại học Sư phạm trở thành trường thành viên của Đại học Huế. Tên gọi đầy đủ của Trường là 'Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Huế.

    Mô hình Đại học Sư phạm Huế. Nguồn: NgoViet Library

    Mang phong cách kiến trúc hiện đại Việt Nam (là kiến trúc của sự hợp lý, khởi nguồn từ chủ nghĩa hiện đại - modernism, loại bỏ trang trí "rườm rà, phù phiếm", đường nét đơn giản, mạnh mẽ, vật liệu hiện đại như bê tông, thép, kính…, kết hợp hài hòa với thiên nhiên và điều kiện khí hậu), công trình là tác phẩm của KTS Ngô Viết Thụ. Điểm nhấn đặc biệt của công trình là hai dãy giảng đường chính, thiết kế theo hình chữ Y. Kiểu thiết kế này không chỉ độc đáo về thẩm mỹ mà còn tối ưu không gian, giúp mảng xanh có thể "len" vào nhiều hơn, khiến công trình như lọt thỏm giữa bốn bề cây xanh, tách biệt khỏi ồn ào, bụi bặm ngoài đường. Giảng đường với nhiều cửa sổ lớn giúp thông gió, sáng tự nhiên, tiết kiệm năng lượng.

    Đại học Sư phạm Huế Nguồn: © Alexandre Garel


    Bông gió (brise-soleil, còn gọi là hoa gió) là một trong những đặc trưng của kiến trúc nhiệt đới, giúp giảm thiểu ánh nắng mặt trời trực tiếp, tạo hiệu ứng ánh sáng và bóng đổ độc đáo. Ở công trình này, mảng tường gạch bông gió dọc hành lang và bức tường vàng nhuốm màu thời gian tạo hiệu ứng thị giác thú vị khi ánh nắng chiếu qua. Cầu thang xoắn ốc là đường cong làm "mềm" lại những nét thẳng, chắc của công trình và cũng là góc chụp hình "sống ảo" yêu thích của giới trẻ. (Nguồn: Thanh Niên)

    • Trường Trung học Kiểu mẫu Huế
    • Học viện Quốc gia Nông nghiệp, Thủ Đức (Đại học Nông Lâm TP.HCM)
    • Nhà thờ chính tòa Phủ Cam, Huế
    • Nhà thờ Bảo Lộc
    • Nhà thờ Chánh tòa Vĩnh Long
    • Việt Nam Quốc Tự

    Nhà thờ Phủ Cam. Nguồn: NgoViet Library

    Nhà thờ Chánh tòa Vĩnh Long. Ảnh: Wikipedia


    Khách sạn và công trình dịch vụ

    • Khách sạn Hương Giang I, Huế
    • Khách sạn Hương Giang II (Century Hotel), Huế
    • Khách sạn Majestic (trùng tu toàn diện, thêm hai tầng phục vụ hội nghị quốc tế)
    • Khách sạn Chợ Đà Lạt

    Khách sạn Majestic. Ảnh: majesticsaigon.com

    Khách sạn Hương Giang I, Huế. Ảnh: tripadvisor.com.vn


    Trụ sở và công trình công cộng

    • Trụ sở Ty Thủy lợi Đắk Lắk (nay là Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)
    • Nhà khách tỉnh Tiền Giang, Mỹ Tho
    • Trụ sở Hàng không Việt Nam
    • Trụ sở Việt Nam Hàng hải Thương thuyền
    • Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Hợp tác xã
    • Tòa nhà USOM
    • Trụ sở Công ty Liên hợp Xuất nhập khẩu Vĩnh Phú
    • Tòa Đại sứ Việt Nam tại London (Anh)

    Khu công nghiệp và nhà máy

    • Khu kỹ nghệ An Hòa Nông Sơn, Quảng Nam
    • Khu kỹ nghệ Sicovina – Phong Phú (nay là Nhà máy dệt Phong Phú)
    • Nhà máy Sicovina, Đà Nẵng
    • Nhà máy Eternit (Fibro ciment), Biên Hòa
    • Nhà máy Sữa hộp Foremost, Biên Hòa

    Nhà ở và cư xá

    • Chung cư Tòa Đại sứ Pháp, Sài Gòn
    • Khu Cư xá Giáo sư Đại học, Huế
    • Khu Cư xá Kiểu mẫu Tân Thuận
    • Biệt thự Ưng Thi, Biệt thự Ngô Viết Thụ, Biệt thự Nguyễn Ngọc Thơ
    • Biệt thự Khoa trưởng Đại học Sư phạm Huế
    • Biệt thự Trần Lệ Xuân, Đà Lạt
    • Các nhà phố mẫu A–E quanh Chợ Đà Lạt
    • Nhà phố Vạn Kim
    • Nhà ở tiền chế aérolith kiểu mẫu.

    Biệt thự ông bà Ưng Thi. Nguồn: NgoViet Library

    Biệt điện Trần Lệ Xuân tọa lạc ngay trung tâm thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng), được khởi công xây dựng từ năm 1958. Ảnh: BTC/Thanh Niên

    Chung cư Tòa Đại sứ Pháp tại Sài Gòn. Nguồn: © Alexandre Garel ) 

    Nội thất sảnh Chung cư Tòa Đại sứ Pháp tại Sài Gòn. Nguồn: © Alexandre Garel


    Y tế – thương mại – hạ tầng

    • Bệnh viện Đa khoa 500 giường tỉnh Sông Bé (nay là Bình Dương)
    • Trung tâm thương mại Crystal Palace (Thương xá Tam Đa)
    • Câu lạc bộ Thủy thủ, Quảng Ninh
    • Tháp điều áp của Sài Gòn Thủy Cục (SAWACO)

    Tháp cắt áp cao 46 m nằm trên đường Điện Biên Phủ, phía bên kia bờ kênh là quận 1. Ảnh: Đình Văn/Vnexpress


    Quần thể kiến trúc

    • Quần thể Chợ Đà Lạt (chợ, cầu nổi, đại lộ, công viên, khách sạn, khu phố lầu)
    • Quần thể kiến trúc phía Đông Nam Sông Hương, Huế (ĐHSP Huế, Trung học Kiểu mẫu, biệt thự Khoa trưởng, Khách sạn Hương Giang I, Century Hotel, quy hoạch cảnh quan ven sông)
    • Quần thể Việt Nam Quốc Tự và Viện Đại học Phương Nam của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất

    Quần thể kiến trúc phía Đông Nam sông Hương, Huế (Đại học Sư phạm Huế, Trung học Kiểu mẫu, biệt thự Khoa trưởng, Khách sạn Hương Giang I, Century Hotel, Nguồn: NgoViet Library


    Công trình cộng tác với KTS trong và ngoài nước

    • Đại học Y Khoa (nay là Đại học Y Dược TP.HCM)
    • Chợ Đà Lạt
    • Chùa Trúc Lâm, Đà Lạt (phác thảo)
    • Nhà thờ Bảo Lộc, Lâm Đồng
    • Đại giáo đường Syracuse (Ý)
    • Cung Nghệ thuật Quốc tế – Cité Internationale des Arts, Paris (Pháp)
    • Bệnh viện Vernon, Évreux (Pháp)
    • Trung tâm Quốc tế các Nghị sĩ, Paris (Pháp)

    Văn phòng Tư vấn Kiến trúc và Chỉnh trang Lãnh thổ, trực thuộc Phủ Tổng thống năm 1962. Nguồn: NgoViet Library

    Trước chợ Đà Lạt, 1964. Ảnh: LIFE


    Quy hoạnh

    • Quy hoạch kết nối Sài Gòn – Chợ Lớn với Trung tâm Đô thị Hành chính mới
    • Quy hoạch chỉnh trang Đà Lạt
    • Quy hoạch đô thị hai bên Xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa
    • Quy hoạch Hội chợ Quốc tế tại Thủ Đức
    • Quy hoạch Làng Đại học Thủ Đức
    • Quy hoạch Viện Đại học Sài Gòn (Thủ Đức)
    • Quy hoạch cảnh quan Công trường Mê Linh, bến Bạch Đằng, Sài Gòn
    • Quy hoạch Khu Cư xá Kiểu mẫu Tân Thuận
    • Quy hoạch Viện Đại học Huế
    • Quy hoạch trên 30 tỉnh thành, thị xã, khu đô thị mới miền Nam (1959–1975), trong vai trò thiết kế ý tưởng và định hướng quy hoạch (Văn phòng Tư vấn Kiến trúc và Chỉnh trang Lãnh thổ của KTS Ngô Viết Thụ, trực thuộc Phủ Thủ tướng), phối hợp với Tổng nha Kiến thiết và Thiết kế Đô thị.

    Cố vấn quy hoạch

    • Quy hoạch chỉnh trang lãnh thổ và kiến trúc, Algérie
    • Quy hoạch Thủ đô Hà Nội (đến năm 2000)
    • Quy hoạch TP Hải Phòng
    • Quy hoạch tỉnh Vĩnh Phú và Khu Đền Hùng
    • Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh
    • Quy hoạch Khu Trung tâm Thị xã Vinh (Nghệ Tĩnh)
    • Quy hoạch TP Nha Trang (Khánh Hòa)
    • Quy hoạch Đà Lạt và Bảo Lộc (Lâm Đồng)
    • Quy hoạch Nam Sài Gòn
    • Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long (bao gồm Đồng Tháp Mười)
    • Quy hoạch Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo.

    Một góc khu Nam Sài Gòn nhìn từ trên cao. Ảnh: Znews


    Hội họa

    • Tranh sơn dầu: Sơn hà cẩm tú, Thần tốc, Đảo Corfu – Hy Lạp, Ngõ Trúc, Đô thị, Trên đồi sương, Dáng mây chiều, Kết hợp.
    • Ngoài ra, còn hàng trăm bức tranh sơn dầu và tranh thủy mặc khác.

    Tranh sơn dầu  “Huyền Cơ”. Nguồn: NgoViet Library


    Trong danh sách này, chỉ các công trình không xây dựng tại TP.HCM mới ghi thêm địa điểm cụ thể. Đây chỉ là danh sách chưa đầy đủ các tác phẩm của KTS Ngô Viết Thụ. Do nhiều tài liệu, bản vẽ, hình ảnh và mô hình tại Văn phòng Tư vấn Kiến trúc và Chỉnh trang Lãnh thổ bị thất lạc sau năm 1975 khi văn phòng được tiếp quản, một số công trình chưa thể xác định thông tin chính xác.

    TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn (tổng hợp, 8.2026)

    100 năm ngày sinh Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ - cây đại thụ trong làng kiến trúc Việt Nam với những thông tin mang rất nhiều cảm xúc sẽ được tìm thấy trên Người Đô Thị số 171 phát hành ngày 27.8.2026 qua bài viết của các tác giả Ngô Viết Nam Sơn, Ngô Thị Diễm Vân, Mel Schenck, Nguyễn Trương Quý. Di sản của ông không chỉ bao gồm số lượng những công trình ông đã xây dựng trên khắp xứ sở mà còn ở cách ông tìm kiếm bản sắc Việt trong dòng chảy hiện đại, ở trách nhiệm với cảnh quan thiên nhiên và cộng đồng, và bao trùm lên tất cả là lẽ sống vì quê hương, đất nước.


    Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

    THÔNG BÁO Tư vấn sức khỏe COVID-19: 5 năm trước Xem kỷ niệm của bạn

     https://www.facebook.com/photo?fbid=1998301563653693&set=pcb.1998301690320347

    https://www.facebook.com/photo?fbid=1998301536987029&set=pcb.1998301690320347



    • Facebook: Đất Thủ quê hương tôi

    • Biểu trưng: 5 HÌNH ẢNH Người công dân GƯƠNG MẪU

      • Dòng chữ nhỏ bên dưới: Gương mẫu chấp hành pháp luật; ứng xử văn minh lịch sự nơi công cộng; thân thiện, hiếu khách; biết giữ gìn vệ sinh chung; sống có trách nhiệm với cộng đồng.

    Tiêu đề chính:

    • THÔNG BÁO

    • Tư vấn sức khỏe COVID-19, cô bác vui lòng liên hệ

    Danh sách bác sĩ tư vấn:

    1. BS. Đinh Văn Khai

      • Nguyên Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương

      • SĐT: 0983.860749

    2. BS. Lại Thế Thành

      • Nguyên Giám đốc Trung tâm phòng, chống dịch bệnh Xã hội tỉnh BD

      • SĐT: 0903.912934

    3. BS. Hàn Khởi Quang

      • Nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương

      • SĐT: 0909.994949

    4. BS. Huỳnh Văn Nhị

      • Nguyên Giám đốc Sở Y tế (Nguyên UV.BTV TU-CT UBMTTQ Việt Nam tỉnh, nguyên PCT UBND tỉnh)



    Thứ Tư, 29 tháng 7, 2026

    LỊCH SỬ NGÀNH Y TẾ BÌNH DƯƠNG TẬP II (1975 – 2005)

     https://fr.slideshare.net/slideshow/lch-s-ngnh-y-t-bnh-dng-tp-ii-1975-2005/244914340

    Tài liệu là một cuốn sách ghi lại lịch sử ngành y tế tỉnh Bình Dương từ năm 1975 đến 2005, phản ánh những nỗ lực và thành tựu trong việc chăm sóc sức khỏe nhân dân qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Nó được biên soạn dưới sự lãnh đạo của Sở Y tế Bình Dương nhằm tái hiện những khó khăn, thử thách cũng như tinh thần cống hiến của đội ngũ y tế trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Cuốn sách không chỉ là tư liệu lịch sử mà còn góp phần giáo dục truyền thống nghề y cho các thế hệ cán bộ y tế.

    Chuyện của người chiến sĩ quân y/ Ký ức của Bác sĩ Trương Trung Nghĩa trong ngày 30-4-1975: Chuyện bây giờ mới kể

    Cẩm Anh 30/04/2024 19:47 (GMT+7)

    GD&TĐ - Kể về những ngày tháng chiến đấu giữa làn đạn bom ác liệt, đôi mắt của người chiến sĩ quân y ánh lên niềm xúc động xen lẫn tự hào.
    Bác sĩ Nghĩa đọc tên của từng đồng đội đã hy sinh trong khoảng năm 1961 đến 30/4/1975.
    Những ngày cuối tháng 4, trong không khí cả nước tưng bừng hướng về ngày kỷ niệm thống nhất đất nước, bác sĩ Trương Trung Nghĩa, 80 tuổi, nguyên Phó Giám đốc Sở Y tế Sông Bé (nay là Bình Dương và Bình Phước), sinh viên khóa đầu tiên Trường Đại học Y - Dược TPHCM, vẫn giữ thói quen ôn lại kỷ niệm với đồng đội cũ và tưởng niệm những người đã hy sinh…
    Từ chiến trường đến giảng đường
    Kể về những ngày tháng chiến đấu giữa làn đạn bom ác liệt, đôi mắt của bác sĩ Nghĩa ánh lên niềm xúc động xen lẫn tự hào.
    Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Năm 1958, tròn 14 tuổi, ông được đưa đến Sài Gòn làm quân báo. Nhiệm vụ lúc bấy giờ là giao liên, đưa thư từ mật cho cán bộ hoạt động tại Sài Gòn. Những báo cáo, tài liệu cứ thế theo bước chân băng rừng, xẻ núi của chàng thiếu niên dũng cảm.
    Đầu năm 1960, ông về quê ở xã An Điền, huyện Bến Cát theo thầy Sáu Vui, Chín Ngót học cứu thương. Vừa trở lại đơn vị, ông được theo phục vụ cho trận đánh Tua Hai ở Tây Ninh.
    Năm 1963, ông Nghĩa được điều về Trung ương Cục miền Nam (viết tắt là R), làm nhiệm vụ phục vụ y tế tại Trường Điệp báo để chăm sóc sức khoẻ các đồng chí lãnh đạo miền Nam và đường dây đặc biệt của Công an R, từ R đến khu Sài Gòn - Gia Định.
    “Lúc này, các đồng chí bị sốt rét quá nhiều, một mình tôi phục vụ 600 người, trị bằng Đông - Tây y kết hợp. May mắn, tất cả đều được chữa khỏi”, ông kể.
    Để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, Ban Quân y Đoàn 100 được thành lập và chia ra nhiều đội giải phẫu tiền phương. Tổ đội phẫu gồm ông Nghĩa cùng đồng chí Công, Châu được phân công trực tiếp cấp cứu tại mặt trận của Sư đoàn 9 đánh vào Sài Gòn (cánh nam tỉnh Long An).
    Ban ngày, anh em chia ê-kíp mổ cho thương binh, ban đêm thì khiêng các đồng chí hy sinh về bên sông Vàm Cỏ Đông chôn cất. Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, thương binh quá nhiều, hệ thống tổ chức lực lượng quân y cho toàn quân khu chưa đáp ứng đủ, các y bác sĩ phải tăng cường giải phẫu đến nỗi kiệt sức.
    Ông Nghĩa nhớ lại: Đó là một ngày nắng to của những ngày đầu năm 1968, khi đang phục vụ y tế trên mặt trận chiến trường, một quả pháo của đối phương rơi chính nơi tổ đội phẫu làm việc. Hai đồng chí Châu và Công hy sinh trước mắt ông. Bàng hoàng đau đớn khôn xiết nhưng ông vẫn không quên nhiệm vụ, nước mắt rơi nhưng hai tay vẫn liên tục băng bó cho thương binh vừa được chuyển về.
    Nén đau thương, ông chôn cất hai đồng đội. Một mình ông Nghĩa (lúc đó chỉ mới 28 tuổi) phải dẫn đoàn thương bệnh binh khoảng 200 người băng qua đồng ruộng về C2, Đoàn 100. Để tránh đạn bom của địch, ông cùng các chiến sĩ đào hầm phẫu thuật và làm nơi trú ẩn cho thương binh.
    Con đường bác sĩ Nghĩa trải qua trong chiến trận ngày ấy đến bây giờ đã hơn nửa thế kỷ, biết bao nhiêu sóng gió ác liệt khó khăn của cuộc đời làm cách mạng. Ngay khi kể lại hồi ức này, ông vẫn không hiểu vì sao đi trong “cơn mưa bom đạn” như thế mà mình vẫn còn sống.
    Hòa bình lập lại, ông Trương Trung Nghĩa trở thành sinh viên khoá đầu tiên của Trường Đại học Y - Dược TPHCM. Bức ảnh vợ chồng bác sĩ Trương Trung Nghĩa chụp năm 1975 ở Trung ương Cục miền Nam.
    Hồi ức hào hùng ngày 30/4 lịch sử
    Ông Nghĩa nhớ lại, đầu năm 1975, ông được lãnh đạo Công an Trung ương Cục miền Nam gọi về cùng các đồng chí: Quýt, Chín Thanh, Đài, Đức chuẩn bị vào chiến trường Khu Sài Gòn - Gia Định. Mọi người được giao nhiệm vụ xuống đường phục vụ cho trung đoàn, công an vũ trang làm nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ đoàn xe Trung ương cục và các ngành của Trung ương.
    3 giờ sáng ngày 30/4/1975, các cơ quan Trung ương Cục miền Nam được lệnh xuống đường tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh tại Sài Gòn. Đoàn xe gồm: Công an vũ trang, Cục Chính trị quân đội, Ban Tuyên huấn, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, Ban Binh vận, Ban Dân y và cả khối vận như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ...
    Nhớ lại những hình ảnh sôi động của ngày 30/4 lịch sử, bác sĩ Nghĩa nói: “Với khẩu hiệu “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, từ lúc có lệnh xuống đường đến khi vào Sài Gòn, cả đoàn không ai ngủ được”.
    Gần 600 chiếc xe lớn nhỏ, tập trung tại ngã ba Đồng Pal, gần khu vực núi Bà Đen (Tây Ninh), nối đuôi nhau dài hơn 2km. Một tiếng sau, đoàn xe bắt đầu xuất phát, khi đến Trảng Cỏ (Tây Ninh), cả đoàn dừng lại chờ lệnh.
    Đúng 11 giờ 30 phút, Trung ương Cục phát thông tin đối phương đã đầu hàng quân giải phóng. Nhìn lên trời, máy bay trực thăng địch đua nhau tháo chạy. Mọi người ôm nhau, người khóc người cười vui mừng khôn xiết.
    Đêm đó, đoàn được lệnh vào tạm nghỉ tại Trường Đại học Bách khoa Sài Gòn. Tất cả mọi người được phát băng Ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định.
    Sáng ngày 1/5/1975, bác sĩ Nghĩa cùng bác sĩ Chín Thanh nhận nhiệm vụ tiếp quản Bệnh viện Cảnh sát quốc gia (nay là Bệnh viện 30/4). Ngoài bàn giao con người, thuốc men, tài sản, còn có hơn 200 khẩu súng các loại và 50 thùng lựu đạn trong bệnh viện.
    Sau ngày đất nước thống nhất, đau đáu về những chiến hữu đã hy sinh trong những năm kháng chiến ác liệt, bác sĩ Nghĩa lập bảng đỏ in tên đồng đội. Tấm bảng ghi danh 36 đồng chí mà ông còn nhớ tên, được đặt trang trọng chính giữa gian tủ phòng khách.
    Trên bức tường đượm màu thời gian, người bác sĩ già treo kín bằng khen, huân chương, huy chương, những tấm ảnh ghi lại dấu ấn một thời vào sinh ra tử.
    “Mình vẫn còn may mắn hơn nhiều đồng đội khác, khi có thể bình an bước ra từ khói lửa chiến tranh”, ông lặng người, hướng ánh nhìn xa xăm tưởng nhớ về những người đồng đội đã hy sinh như bộc bạch tâm tư.
    “Trưa ngày 30/4/1975, cờ đỏ sao vàng bay rợp trời, người dân tràn ra đường reo hò chiến thắng, mừng đoàn quân giải phóng về tiếp quản thành phố. Cả đoàn xe nối đuôi nhau đi từ từ vào trung tâm trong không khí hừng hực khí thế khiến con tim ai cũng hân hoan”, ông Nghĩa bồi hồi nhớ lại ngày lịch sử.
    [chuyện của người chiến sĩ](https://giaoducthoidai.vn/tu-khoa.html?q=chuyện của người chiến sĩ) [người chiến sĩ quân y](https://giaoducthoidai.vn/tu-khoa.html?q=người chiến sĩ quân y) thống nhất đất nước

    Ký ức của Bác sĩ Trương Trung Nghĩa trong ngày 30-4-1975: Chuyện bây giờ mới kể

    Thứ năm, ngày 30/04/2020
    Theo dõi Báo Bình Dương trê

    Bức ảnh vợ chồng bác sĩ Trương Trung Nghĩa chụp năm 1975 ở R


    Các cựu sinh viên khóa I, trường Đại học Y dược TP.Hồ Chí Minh trong buổi họp mặt tại Bình Dương năm 2019

     Trận đánh cuối cùng

    Tiếp chúng tôi trong thời khắc của những ngày cuối tháng 4 lịch sử, bác sĩ Trương Trung Nghĩa, nguyên Phó Giám đốc Sở Y tế Sông Bé, nói: “Vui lắm, quên sao được. Ngày ấy, cả nước hừng hực khí thế, niềm vui vỡ òa”. Trên nét mặt ông hiện rõ niềm vui, xúc động, miền ký ức của ngày 30-4-1975 lại trở về. Ông kể, đầu năm 1975, khi đang đi học lớp bác sĩ dân y miền Nam, ông được lãnh đạo Công an Trung ương Cục miền Nam (gọi tắt là R) gọi về để chuẩn bị đi vào chiến trường Khu Sài Gòn - Gia Định. Ngày 22-4-1975, ông nhận lệnh chuẩn bị lên đường đi tiếp quản Khu Sài Gòn - Gia Định. Tuy nhiên, đến ngày 26-4- 1975, ông lại nhận được lệnh đi Chiến dịch Hồ Chí Minh ở Sài Gòn. Ông bảo, trong suy nghĩ lúc này, trận đánh cuối cùng chắc cam go lắm, sẽ hy sinh nhiều người lắm đây nhưng ông không hề nao lòng. Với ông, được tham gia trận đánh cuối cùng này là cả niềm vinh dựtự hào.

    Ở yên chờ lệnh, đến 3 giờsáng ngày 30-4-1975, tất cả các cơ quan Trung ương Cục miền Nam được lệnh xuống đường tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh tại Sài Gòn. Đoàn xe Trung ương cục Miền Nam, gồm: Công an vũ trang, Cục Chính trị quân đội, Ban Tuyên huấn, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, Ban Binh vận, Ban Dân y và cả khối vận như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ... đều tham gia. Cả đoàn xe khoảng 400 chiếc tập trung tại ngã ba Đồng Pal, gần khu vực núi Bà Đen (tỉnh Tây Ninh). Cứ cách nhau 15m/chiếc, đoàn xe đậu dài cả 2km. Đúng 4 giờ sáng, đoàn xe bắt đầu xuất phát, đến huyện Trảng Cỏ (tỉnh Tây Ninh) lúc 9 giờ 30 phút, cả đoàn dừng lại chờ lệnh.

    Đúng 11 giờ, liên lạc ở Sài Gòn ra hướng dẫn đoàn xe vào bên trong nội ô. Lúc này, trên xe mọi người lấy cơm vắt ra ăn với muối. Đúng 11 giờ 30 phút, đoàn xe nhận được tin của Trung ương Cục, bọn ngụy đã đầu hàng. Bình thường từ đây vào nội ô Sài Gòn chỉ tầm 60 phút nhưng hôm nay, người dân tràn ra đường reo hò mừng chiến thắng và mừng đoàn quân giải phóng về tiếp quản thành phố. Vì vậy, xe chạy rất chậm, chẳng khác gì đi bộ. Chỉ cách nội ô vài cây số mà phải chạy 3 - 4 giờ mới tới.

    Đêm đó, đoàn được lệnh vào tạm nghỉ tại trường Đại học Bách khoa Sài Gòn. Tất cả các đoàn được phát băng Ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định. Đoàn công an tiếp quản Tổng nha Cảnh sát ngụy. Đoàn quân đội tiếp quản BộTham mưu ngụy. Đoàn Dân y tiếp quản các bệnh viện Chợ Rẫy, Vì Dân (nay là Bệnh viện Bình Dân), Chợ Quán, Từ Dũ...

    Nhớ lại những hình ảnh của ngày 30-4 năm ấy, bác sĩ Trương Trung Nghĩa nói: “Với khẩu hiệu “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, từ lúc có lệnh xuống đường, đến khi vào Sài Gòn, cả đoàn không ai ngủ được. Bởi đã bao nhiêu năm, ai cũng vui mừng, háo hức chờ đợi giây phút này”. Và với bác sĩ Trương Trung Nghĩa, đây còn là một kỷ niệm khó phai, bởi đội của ông đã kịp thời cứu thương cho thương binh trong giờ khắc thiêng liêng này. Đúng 8 giờ sáng ngày 1-5-1975, ông cùng 2 bác sĩ khác đi tiếp quản bệnh viện cảnh sát ngụy do một bác sĩtên làMân làm giám đốc. Ngày đó, ngoài bàn giao con người, thuốc men, tài sản, còn có rất nhiều súng ống. Trước sự ngạc nhiên của ông, bác sĩ Mân bèn nói: “Tổng nha Cảnh sát chỉ đạo đội ngũ y, bác sĩ ở đây phải chống lại tiểu đoàn quân giải phóng. Rất vui là đã không phải dùng đến số súng ống này…”.

    Một thời hoa lửa

    “...Anh lính trẻ trên võng dù đẫm máu/ Chắc vì đau nên nằm lặng lẽ mê man/ Hãy gắng lên về trạm phẫu tiểu đoàn/ Rồi bác sĩ chữa cho anh lành lặn.../ Ngày mai anh lại lên đường ra trận/ Giải phóng quê hương, diệt hết giặc thù/ Để bầu trời rạng rỡ nắng mùa thu/ Cho đất nước giang sơn liền một dải” cũng chính là hình ảnh của bác sĩ Trương Trung Nghĩa trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Năm 1958, tròn 14 tuổi, ông đã được đưa đi Sài Gòn làm quân báo. Nhiệm vụ lúc bấy giờ là giao liên, đưa thư từ mật cho khu Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn. Đầu năm 1960, ông về quê ở xã An Điền, huyện Bến Cát để theo thầy Sáu Vui, Chín Ngót học cứu thương. Vừa trở về, ông được theo phục vụ cho trận đánh Tua Hai ở Tây Ninh. Bước sang năm 1961, ông vào Công an tỉnh Thủ Dầu Một. Sau đó, năm 1963, ông được điều về Trung ương Cục (R), làm nhiệm vụ phục vụ y tế tại trường Điệp Báo (hay còn có tên trường Trinh Sát, trường Vũ Thuật), rồi phục vụ đường dây đặc biệt của Công an R, từ R đến Khu Sài Gòn - Gia Định.

    Chiến trường ác liệt, người lính quân y như ông cũng nếm trải biết bao hiểm nguy. Bác sĩ Trương Trung Nghĩa, kể: “Cuối năm 1967, tôi đi học y sĩ ở Ban Quân y R. Để chuẩn bị cho Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, Ban Quân y Đoàn 100 được thành lập và chia ra nhiều Đội giải phẫu tiền phương. Tôi cùng đồng chí Công, Châu được phân công trực tiếp cấp cứu tại mặt trận của Sư đoàn 9 đánh vào Sài Gòn (cánh nam tỉnh Long An). Cuộc Tổng tiến công Mậu Thân nổ ra, lần đầu tiên tôi chứng kiến, đội phẫu có3 người thì 1 người chết, 1 người bị thương trước mặt mình. Chiến trường năm đó thương binh quá nhiều. Ban ngày, anh em chia ê-kíp mổ cho thương binh, ban đêm thì khiêng các đồng chí hy sinh về bên sông Vàm Cỏ Đông chôn cất...”.

    Đến năm 1970, bác sĩ Trương Trung Nghĩa về nhận nhiệm vụ làm trợ lý điều trị và phòng bệnh cho Phòng Y tế Công an R mới thành lập. Chưa được bao lâu, năm 1971, trận càn Đông Dương của Mỹ - ngụy nổ ra (còn gọi là trận càn Lam Sơn 719 đánh thẳng qua Lào, Campuchia), bệnh xá và đội phẫu của Ban An ninh R bị trực thăng địch phát hiện, đánh thẳng vào trạm xá, 4 người hy sinh và 10 người bị thương rất nặng. May mắn thoát chết, ông cùng các y tá khác chạy lo cấp cứu cho thương binh dưới làn đạn, pháo cối của địch. Ngày hôm sau, trên đường hành quân, trạm xá và đội phẫu cũng bị trực thăng đánh tiếp, ác liệt không kém, nhưng nhờ có hầm của đơn vị cũ nên thương binh và nhân viên trú ẩn an toàn. Chiến trường Phân khu 5 ác liệt, tàn khốc, đau thương bao trùm bởi Mỹ - ngụy rải thảm B52, pháo bầy, biệt kích bao vây căn cứ để chia cắt Chiến khu Đ và Trung ương Cục miền Nam. Tuy nhiên, bất chấp mưa bom, bão đạn của địch, ông cũng như các cán bộ, chiến sĩ của ta vẫn giữ vững khí thế tiến công cách mạng, chiến đấu đến cùng; không có gạo thìăn củ mài, củ chụp, lá rừng... để sống và chiến đấu…

    Hòa bình lập lại, bác sĩ Trương Trung Nghĩa trở lại học bác sĩ ở trường Đại học Y dược TP.Hồ Chí Minh (khóa đầu tiên sau ngày miền Nam giải phóng). Từng trải qua những năm tháng ác liệt của cuộc chiến, bác sĩ Trương Trung Nghĩa luôn tự hào rằng ông đã giữ được y đức, “Thầy thuốc như mẹ hiền”, “Lương y như từ mẫu”...

    THU THẢO