Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2026

BS THI ANH: BÀI HỌC NHỚ ĐỜI

 

Năm 1973, tôi là sinh viên Y3. (Năm thứ 3)
Hôm ấy là buổi đầu tiên đi lâm sàng ở khoa Ung thư Bệnh viện Bình Dân.
Chúng tôi có sáu đứa, sáu cái áo blouse trắng mới tinh, túi áo thêu 3 ngôi sao đỏ, cổ áo dựng lên vì căng thẳng. Từ cổng đường Phan Thanh Giản* đi vào, nắng Sài Gòn tháng đó không gắt lắm, vậy mà vừa bước qua cái hành lang khu ung thư, một mùi thối khắm, thối nồng nặc của mủ, của thịt hoại tử, của xác chết thối rữa xộc thẳng vào mũi cả bọn.
Tôi nín thở theo phản xạ. Thằng bạn đứng cạnh tôi đưa tay lên che mũi. Đứa con gái duy nhất trong nhóm thì tái mặt đi.
Khoa Ung thư thời đó không như bây giờ. Không có máy lạnh, không có buồng cách ly đầy mùi thuốc sát khuẩn. Chỉ là một dãy phòng dài, giường sắt kê gần nhau. Trên mỗi giường là một thân người đã bị ung thư gặm mòn. Có người nằm co quắp vì đau, có người rên ư ử...
Chúng tôi, sáu đứa nhóc Y3, vừa mới qua xong hai năm đầu chỉ học cơ thể học trên xác ướp, sinh lý học trong labo và triệu chứng học qua các bài giảng bệnh viện, chưa từng đối diện với những sinh mạng chỉ còn thoi thóp.
Sáu đứa líu ríu đứng chụm lại ở cửa khoa, e ngại chưa dám bước vào, tay kẹp chặt cuốn sổ ghi chép lâm sàng nhỏ bằng bàn tay.
Rồi chúng tôi thấy Thầy - Thầy Đào Đức Hoành**.
Thầy đang ngồi trên mép một chiếc giường bệnh ở cuối dãy. Một chiếc giường kê gần cửa sổ, nắng xiên vào chỉ đủ sáng một khoảng nhỏ.
Trên giường là một bà bệnh nhân khoảng năm mươi tuổi. Bà mặc một bộ bà ba nâu sờn, kiểu thường thấy của phụ nữ nông thôn miền Nam khi lên Sài Gòn chữa bệnh thời đó. Tóc bà đã điểm bạc, búi sau gáy nhưng rối bời. Bà rất gầy, xương quai xanh nhô hẳn lên, đôi mắt bà lo lắng như đang đối diện với một nỗi sợ hãi vô hình, nó trũng sâu có lẽ vì mất ngủ hay vì sụt cân quá nhanh. Sau này tôi mới biết bà bị ung thư cổ tử cung giai đoạn cuối, đã di căn, không thể điều trị vì đến quá muộn.
Thầy ngồi bên bà. Không phải ngồi trên ghế. Thầy ngồi hẳn lên giường bệnh, ngay sát chân bà, như một người thân của bà.
Thầy cầm tay bà. Tôi nhớ như in bàn tay thầy, bao trọn lấy bàn tay gầy guộc, khô đét của bà.
Thầy không đeo khẩu trang. Thầy cũng không mang găng tay.
Thầy hỏi chuyện bà nhỏ nhẹ, dịu dàng như với người thân của mình.
-Bà Tư, nhà bà ở đâu?
  • Dạ thưa bác sĩ, ở dưới Cai Lậy...
  • Bà có mấy cháu rồi? Đứa nào đi theo bà lên đây?
  • Dạ có thằng Út nó theo...
Thầy nói giọng Bắc di cư, nghe nhẹ nhàng, ấm áp, chậm rãi, từ tốn.
Bà Tư ban đầu chỉ lí nhí, cứ chớp mắt nhìn đi chỗ khác, như ngại mình hôi thối không dám gần thầy. Nhưng thầy vẫn cầm lấy tay bà, thỉnh thoảng lại gật đầu khi bà trả lời, rồi vuốt nhẹ lên mu bàn tay nổi đầy gân xanh của bà.
Cả khoa vẫn ồn ào tiếng xe đẩy, tiếng rên rỉ, tiếng y tá gọi nhau văng vẳng, nhưng ở góc phòng đó, ở chiếc giường nồng nặc mùi ung thư đó, chỉ có hai người, một bác sĩ và một người bệnh, nói chuyện với nhau như hai người đã quen từ lâu rồi, không phải người dưng ở bệnh viện.
Chúng tôi sáu đứa đứng sững lại ở đó, không đứa nào còn che mũi. Các anh chị nội trú lớp trên cũng đứng sau thầy. Tất cả đều im lặng.
Theo lẽ thường, một buổi đi buồng đầu tiên, thầy sẽ gọi chúng tôi lại, giới thiệu bệnh nhân, chỉ vào khối u nào đó, giảng về cách thăm khám, về phân loại các giai đoạn của ung thư, về tiên lượng, về hướng điều trị... Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sổ để ghi chép những từ ngữ to tát đó.
Nhưng hôm đó, Thầy Hoành không giảng một chữ nào về bệnh.
Thầy không nói một tí gì về ung thư, về chẩn đoán, về tiên lượng của bà Tư. Thầy không lật hồ sơ bệnh án lên cho chúng tôi xem các kết quả xét nghiệm.
Thầy chỉ ngồi đó, cầm tay bà, hỏi bà ăn được không, đêm ngủ được không? có đau nhiều không? thằng Út nó có chỗ ngủ không?
Một lúc sau, bà Tư khóc. Khóc không thành tiếng Nước mắt bà chảy dài trên gò má hóp. Chỉ là những giọt nước mắt lặng lẽ của một người biết mình sắp chết.
Thầy vẫn không buông tay bà ra. Thầy lấy trong túi áo blouse ra một chiếc khăn tay trắng, chấm nhẹ lên khóe mắt bà.
Khoảnh khắc đó, cái mùi hôi khắm nồng nặc của khoa ung thư mà lúc nãy làm chúng tôi muốn nôn mửa, bỗng dưng như biến mất.
Tôi chỉ còn cảm thấy mùi nắng khét trên bộ bà ba nâu của bà, mùi mồ hôi của một đời lam lũ.
Thằng bạn đứng cạnh tôi cúi gằm mặt xuống. Đứa con gái trong nhóm đưa tay quẹt mắt.
Chúng tôi hiểu.
Chúng tôi, sáu đứa sinh viên Y3 ngày đầu tiên đi lâm sàng ung thư năm 1973, vừa được học bài học lâm sàng đầu tiên và có lẽ là bài học quý giá nhất trong cả cuộc đời làm nghề y của mình.
Đó không phải là bài học về bệnh ung thư cổ tử cung.
Đó là bài học về cách đối xử với một con người đang mang trong mình căn bệnh ung thư.
Sau này ra trường, đi qua nhiều bệnh viện, phụ mổ nhiều ca, đọc hàng trăm cuốn sách y khoa rồi cũng quên dần theo năm tháng, nhưng tôi không bao giờ quên hình ảnh buổi sáng năm 1973 đó. Thầy Hoành ngồi trên giường bệnh, cầm tay một bà bệnh nhân nghèo, bệnh ung thư không còn khả năng điều trị.
Thầy đã dạy chúng tôi bằng chính hành động của mình: Khi y học bất lực, thì tình người là thứ thuốc duy nhất còn lại.
Giờ nghĩ lại, ở tuổi này, tóc tôi cũng đã bạc trắng, thầy tôi cũng ra đi đã lâu rồi, tôi mới thấy mình thật là may mắn. May mắn vì năm hai mươi mấy tuổi, khi còn là một thằng nhóc lơ ngơ, khá ngạo mạn với mớ kiến thức sách vở, tôi đã được học thầy một bài học đến giờ vẫn nhớ như in.
Hãy đối xử với bệnh nhân như chính người thân của mình.
Và mỗi khi tôi đặt tay lên bụng một bệnh nhân để thăm khám, tôi lại nhớ đến bàn tay to, ấm của thầy Hoành năm đó, bao trọn lấy bàn tay gầy guộc của bà Tư, ở khoa Ung thư Bệnh viện Bình Dân, trong một buổi sáng nồng nặc mùi tử khí, một ký ức sao ấm áp lạ thường.
💥Chú thích:
• Nay là Đường Điện biên Phủ , trước năm 1975 có tên là đường Phan Thanh Giản.
** GS Đào Đức Hoành (1920 - 15.6.2002) là người đặt nền móng ngành Ung thư học miền Nam.
Thầy sinh tại Hà Nội, Tú tài 1941, tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa 1948. Thầy từng là Trưởng khu Bệnh lý Ngoại khoa Hà Nội (1950), Bác sĩ thường trú Ngoại khoa BV Yersin (1952).
Thầy tu nghiệp chuyên sâu về ung thư tại Pháp với GS Henri Redon và tại Viện Gustave Roussy với GS Pierre Denoix (1956-1957), học Đồng vị Phóng xạ ở Tokyo (1958), Observer tại Memorial Sloan Kettering, New York (1964-1965).
Tại Sài Gòn trước 1975:
• Trưởng khu Bệnh lý Ngoại khoa B - BV Bình Dân từ 1955.
• Giảng sư Ung thư học Đại học Y khoa Sài Gòn 1957, Giáo sư Thạc sĩ 1964, Giáo sư Thực thụ 1966.
• Thành lập Khoa Ung thư BV Bình Dân năm 1957, nơi vừa điều trị vừa giảng dạy cho sinh viên Y khoa Sài Gòn.
• Giám đốc Bệnh viện Bình Dân từ 1967.
Thầy có 41 công trình nghiên cứu, bảo trợ 70 luận án Tiến sĩ Y khoa (1958-1968), được kính trọng vì y đức và tài năng phẫu thuật đầu cổ, bụng chậu.
Thầy và gia đình đã rời Sài Gòn cuối tháng 4/1975 và sau đó định cư tại Canada.
BS THI ANH 🌷


Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2026

U GIẢ NANG MÀNG BỤNG (PERITONEAL INCLUSION CYST / PSEUDOCYST) — KHI MỔ HỞ NHIỀU LẦN TẠO THÀNH "ĐẦM LẦY" TRONG BỤNG

 

1. Đây là bệnh gì?

Tình trạng của bệnh nhân được mô tả trong bài viết là U giả nang màng bụng (tên y học: Peritoneal Inclusion Cyst, Peritoneal Pseudocyst hoặc Multilocular Peritoneal Inclusion Cyst).

Khác với u nang thật (như u nang buồng trứng có lớp tế bào biểu mô bao bọc tự tiết dịch), u giả nang không có lớp vỏ thành u thật sự. Thành của nang thực chất là sự kết dính của các tạng xung quanh — bao gồm các quai ruột, mạc nối lớn, tử cung hoặc thành bụng — quây lại thành một hốc kín chứa dịch bên trong.

2. Nguyên nhân gây bệnh

Cơ chế hình thành u giả nang màng bụng liên quan chặt chẽ đến sự tổn thương và viêm xơ dính màng bụng:

  • Tiền sử phẫu thuật vùng chậu/ổ bụng nhiều lần: Đây là nguyên nhân hàng đầu (như bệnh nhân trong ca bệnh có tiền sử mổ hở 2 lần do u buồng trứng và thai ngoài tử cung). Quá trình mổ làm tổn thương lớp màng bụng và thanh mạc ruột, khi lành sẽ tạo ra các dính xơ.
  • Quá trình tiết và hấp thu dịch bị rối loạn: Bình thường, buồng trứng vẫn tiết ra một lượng dịch sinh lý nhỏ và màng bụng sẽ hấp thu lượng dịch này. Tuy nhiên, khi các dây dính quây kín tạo thành hốc kín (như một "bể chứa"), dịch tiết ra không thể thoát hoặc không được hấp thu hết, lâu ngày tích tụ dần thành một khối dịch kích thước lớn (có thể lên tới 15–20 cm hoặc hơn).
  • Các nguyên nhân khác: Tiền sử viêm nhiễm vùng chậu (PID), lạc nội mạc tử cung (endometriosis) nặng, hoặc nhiễm trùng ổ bụng cũ.

3. Triệu chứng lâm sàng

  • Bụng to dần hoặc chướng bụng: Thường là lý do chính khiến bệnh nhân đi khám (như bệnh nhân thấy bụng to bất thường dù không đau đớn dữ dội).
  • Cảm giác nặng bụng, trằn nặng vùng hạ vị: Khối dịch lớn chèn ép vào các cơ quan xung quanh.
  • Rối loạn tiêu hóa nhẹ hoặc tiết niệu: Đầy hơi, táo bón, hoặc đi tiểu nhiều lần do khối nang chèn ép vào ruột hoặc bàng quang.
  • Ít khi có sốt hay đau cấp tính: Trừ khi khối dịch bị nhiễm trùng secondary (tạo áp-xe) hoặc gây xoắn/bán tắc ruột.

4. Chẩn đoán & Thách thức

  • Dễ nhầm lẫn với u nang buồng trứng lớn hoặc ung thư buồng trứng: Trên siêu âm ban đầu, khối dịch lớn vùng chậu rất dễ bị chẩn đoán nhầm là u nang buồng trứng.
  • Vai trò của MRI ổ bụng - chậu: Là phương tiện chẩn đoán hình ảnh vàng. MRI giúp bác sĩ nhận diện rõ ranh giới khối dịch có hình dạng bất định (men theo hình dạng các quai ruột), buồng trứng hoàn toàn bình thường nằm tách biệt hoặc bị dính ở viền nang, và các dính xơ xung quanh.

5. Phương pháp Điều trị: Vì sao "Mổ chưa chắc đã tốt"?

Thách thức của Phẫu thuật:

Nếu tiến hành mổ bóc u (dù là mổ hở hay mổ nội soi), bác sĩ sẽ phải gỡ dính các quai ruột. Việc gỡ dính trên nền ổ bụng đã mổ nhiều lần cực kỳ nguy hiểm:

  1. Nguy cơ thủng ruột/bỏng ruột: Ruột dính chặt vào thành nang, gỡ dính rất dễ làm rách hoặc thủng thanh mạc ruột.
  2. Tái phát cao: Phẫu thuật lại tiếp tục gây tổn thương thanh mạc, tạo ra các phản ứng viêm xơ mới, khiến nguy cơ tái phát dính và tạo nang giả sau mổ còn cao hơn trước.

Giải pháp Dẫn lưu can thiệp tối thiểu (như ca bệnh tại BV Nhân dân Gia Định):

  • Dẫn lưu qua ngả âm đạo (hoặc qua da dưới hướng dẫn siêu âm/CT): Với các khối u giả nang nằm thấp ở vùng cùng đồ sau (túi cùng Douglas), chọc hút và đặt ống dẫn lưu qua ngả âm đạo là lựa chọn xâm lấn tối thiểu vô cùng tối ưu.
  • Ưu điểm:
    • Giải phóng nhanh chóng lượng dịch tích tụ (hàng lít dịch vàng trong).
    • Giúp bụng xẹp tức thì, giải áp cho các cơ quan trong ổ bụng.
    • Tránh được một cuộc đại phẫu mổ hở rủi ro cao, không làm tăng thêm xơ dính ổ bụng.

💡 Lời khuyên chuyên môn dành cho cộng đồng

  1. Tiền sử mổ bụng là thông tin rất quan trọng: Khi đi khám phụ khoa hoặc tiêu hóa, luôn báo cho bác sĩ biết tất cả các lần phẫu thuật ổ bụng/vùng chậu trước đây của mình.
  2. Không phải khối u/nang nào trong bụng cũng cần phải mổ: Việc chẩn đoán chính xác bản chất khối u (nang thật hay nang giả dính) bằng các phương pháp hình ảnh chuyên sâu như MRI đóng vai trò quyết định trong việc lựa chọn thái độ điều trị đúng đắn, tránh những cuộc mổ không cần thiết.

Bài viết của BSThương: https://www.facebook.com/share/p/1Du2Jsa7CK/

Bệnh nhân gần 50 t ở vùng đất mũi Cà Mau thấy bụng to quá, không biết là bị gì, chị được siêu âm thấy một bọc nước to ở trong bụng.

Chị lên bệnh viện chuyên khoa ở Sài Gòn để khám và được chỉ định mổ bóc u nước này. Chồng chị cũng làm ngành y nên có chút linh cảm mổ thì không an tâm vì sợ biến chứng. Chồng chị lên Bệnh viện Nhân dân Gia Định thử xem sao.

Vì chị có tiền sử mổ hở 2 lần bóc u buồng trứng và thai ngoài tử cung nên nghi cái bọc nước này là u giả nang, nghĩa là các quai ruột dính lại bao xung quanh làm ứ dịch lại, giống như chúng ta xây nhà bịt kín không có chỗ thoát nước làm tạo bãi đầm lầy bên trong vậy đó.

Chụp MRI đúng như dự đoán là các quai ruột quây quần bên nhau tạo nang giả dính. 20cm. Nếu mổ thì càng làm cho ruột bị trầy thanh mạc, càng bị dính tái phát, chưa kể nguy cơ thủng ruột. Thật là nan giải, chẳng biết phải làm chi mô.

Trong cái khó, ló cái khôn. Chúng tôi hội chẩn, quyết định dẫn lưu qua ngả âm đạo.

Kế hoạch được vạch ra với cơ trưởng là bs Hùng dẫn lưu với sự trợ giúp của các bs trợ lý xinh đẹp. Khi chọc ống dẫn lưu vào cùng đồ sau, những dòng nước vàng óng ánh chảy ra như thác đổ. Trên màn hình siêu âm dịch giảm dần và bụng xẹp hẳn.

Dẫn lưu xong, anh chồng mừng rơi nước mắt vì vợ anh không phải bị mổ và bụng nhỏ lại, dáng đẹp như thuở xuân thì.

Cám ơn các đồng nghiệp tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định đã tạo nên tác phẩm ly kỳ..

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2026

PGS.TS.BS Nguyễn Tấn Cường: Bác sĩ lách qua khe cửa lịch sử, mang về Việt Nam bộ máy nội soi 100kg

 Hơn 30 năm trước, PGS.TS Nguyễn Tấn Cường mang dàn máy phẫu thuật nội soi được tặng từ Mỹ về Việt Nam, mở đường cho kỹ thuật mới trong điều kiện y tế còn nhiều thiếu thốn.

PGS Nguyễn Tấn Cường ảnh 2

Show: MediVoice
Khách mời: PGS.TS.BS Nguyễn Tấn Cường
Host: Phương Thảo

Trong cuộc trò chuyện với Medi Voice, PGS.TS.BS Nguyễn Tấn Cường, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại, Đại học Y Dược TP.HCM, nguyên Trưởng khoa Gan mật tụy, Bệnh viện Chợ Rẫy, nhớ lại những ngày đầu đưa phẫu thuật nội soi vào Việt Nam đầu thập niên 1990.

Đó là hành trình ông cùng đồng nghiệp mang từng bộ phận của dàn máy nội soi nặng gần 100 kg từ Mỹ về nước, với sự tin tưởng của những người thầy và quyết tâm đưa kỹ thuật mới đến gần hơn với người bệnh.

Không định làm bác sĩ, rồi lại đến với ngoại khoa

Bác sĩ Nguyễn Tấn Cường từng nghĩ mình sẽ theo một con đường khác trước khi trở thành phẫu thuật viên. Cơ duyên đến với ngành y của ông bắt đầu như thế nào?

Thật ra, tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ trở thành bác sĩ y khoa. Khi thi đại học, tôi đăng ký vào Trung tâm Phú Thọ, nay là Đại học Bách khoa, nhưng không đậu. Sau đó, tôi học một năm ở Đại học Khoa học, tiền thân của Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM.

Thời đó, một số bạn học cùng tôi đăng ký các chứng chỉ liên quan đến sinh lý, sinh hóa, sinh vật để thi vào Đại học Y khoa. Họ rủ tôi thi cùng. Tôi vốn không thích học y vì có ấn tượng rằng học y chủ yếu là học thuộc lòng.

Tôi nhớ có một người bạn học cùng, sau này là bác sĩ Nguyễn Trung Vinh, người có đóng góp trong lĩnh vực phẫu thuật sàn chậu ở Việt Nam. Anh ấy học rất chăm. Có hôm tôi thức đến 1-2h sáng mới ngủ, nhưng khoảng 4h anh đã dậy học thuộc lòng. Vì thế, tôi càng nghĩ học y là một con đường vất vả. Tuy nhiên, lúc ấy tôi cũng chưa biết sẽ làm gì nếu không học tiếp.

Các bạn có tài liệu sinh vật, rủ tôi ôn thi thì tôi cũng thử nộp đơn. Không ngờ tôi thi đậu. Đó là một bước ngoặt đáng nhớ.

Từ một lựa chọn không nằm trong dự định ban đầu, tôi bắt đầu bước vào con đường mà sau này gắn bó suốt cuộc đời.

Còn ngoại khoa, chuyên ngành đã gắn với tên tuổi ông, cũng không phải lựa chọn ban đầu?

Đúng vậy. Tôi tốt nghiệp năm 1979. Trước đó, chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra năm 1978, chúng tôi nghe thông tin sinh viên y khoa năm cuối có thể được động viên, điều động sang chiến trường Campuchia.

Khi đăng ký nguyện vọng chuyên khoa, tôi không chọn ngoại khoa. Tôi thiên về các chuyên ngành nội khoa như nội tổng quát, nội tim mạch, thần kinh hoặc sinh lý.

Sau lần đăng ký đầu tiên, nhà trường thông báo nhiều sinh viên đều chọn những chuyên ngành lâm sàng được xem là thuận lợi, trong khi các ngành như sốt rét, vệ sinh dịch tễ lại không có người đăng ký. Chúng tôi phải đăng ký lần thứ hai, rồi lần thứ ba.

Đến lần thứ ba, tôi bực mình quá nên nói rằng mình sẵn sàng học bất cứ chuyên khoa nào nhà trường phân công và đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần.

Một thời gian sau, tôi được phân công sang ngoại khoa, hoàn toàn ngoài ý muốn.

Nhìn lại, tôi thấy đó cũng là một cái duyên. Nếu khi ấy tôi được lựa chọn đúng theo sở thích ban đầu, có thể cuộc đời tôi đã đi theo một hướng khác.

PGS Nguyễn Tấn Cường ảnh 3

Bước ngoặt đi Mỹ học nhờ thầy bảo vệ

Cơ duyên nào đưa PGS đến với chuyến đi Mỹ học phẫu thuật nội soi, khi kỹ thuật này còn rất mới?

Tôi tình cờ đọc được thông báo về một kỳ thi tiếng Anh do Ủy ban Hợp tác Khoa học Mỹ - Việt tổ chức. Những người thi đậu có cơ hội được sang Mỹ học tập trong một thời gian.

Tôi rủ vài người bạn cùng thi nhưng họ cho rằng cơ hội quá xa vời.

Trong kỳ thi có vài chục người thuộc nhiều chuyên ngành, nhưng chỉ có hai người đậu: tôi, thuộc lĩnh vực phẫu thuật, và một bác sĩ chuyên ngành mắt ở Bệnh viện Mắt.

Thời đó, đi học nước ngoài rất khó, việc tuyển chọn thường có những điều kiện rất chặt chẽ.

Khi có thông báo được đi Mỹ, tôi nộp đơn xin phép nhà trường. Trường tổ chức cuộc họp với đại diện Đảng ủy, Ban giám hiệu và các tổ chức liên quan để xem xét trường hợp của tôi.

Sau này, tôi mới biết cuộc họp rất căng thẳng. Họ sợ tôi đi rồi sẽ không trở về.

May mắn là Giáo sư Trương Công Trung, khi ấy là Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại, từng là khoa trưởng khoa Y và Hiệu trưởng Đại học Y Dược, đồng thời là Đại biểu Quốc hội, hiểu tôi qua quá trình giảng dạy và hướng dẫn sinh viên tại Bệnh viện Chợ Rẫy.

Thầy đã bảo vệ tôi, rằng nếu tôi đi rồi không trở về, nhà trường sẽ mất một cán bộ trẻ; nhưng nếu tôi học được kỹ thuật tiên tiến và mang về nước, ngành y sẽ có thêm một cán bộ giỏi.

Chính lời nói ấy khiến mọi người thay đổi ý kiến và nhà trường đồng ý đề xuất cho tôi đi học.

Tôi không biết chuyện này ngay lúc đó. Mãi nhiều năm sau, khi thầy đã mất, trong một lần đến thắp hương cho thầy, tôi mới được cô kể lại một chi tiết khác.

Hồ sơ của tôi phải đi qua Bộ Y tế, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao rồi đến Hội đồng Bộ trưởng. Sau khi chờ khoảng sáu tháng mà không có thông tin, tôi mới biết thủ tục khó khăn đến mức nào.

Cô kể rằng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng từng gọi điện hỏi thầy Trung có tin tưởng tôi không. Thầy trả lời rằng thầy tin tôi sẽ trở về. Sau đó, lãnh đạo mới đồng ý ký.

Đó là chốt chặn cuối cùng để tôi có thể sang Mỹ. Đến giờ, tôi vẫn xúc động và biết ơn những người thầy đã tin tưởng mình.

Khi đặt chân đến Mỹ, ông đã có cơ hội học tập như thế nào?

Ban đầu, tôi được mời đến Bệnh viện St. Vincent ở Indianapolis, bang Indiana, trong ba tháng để quan sát. Tôi xuống phòng mổ, theo dõi các ca phẫu thuật. Ca nào thiếu người phụ, tôi xin vào phụ giúp. Tôi làm việc với nhiều bác sĩ khác nhau.

Gần hết ba tháng, tôi đến chào bác sĩ Maurice Arregui, người mà tôi rất quý mến. Sau này tôi mới biết ông là một trong những người tiên phong về phẫu thuật nội soi tại Mỹ, có nhiều cải tiến kỹ thuật và phương pháp rất hay.

Ông ngạc nhiên khi biết thời gian học của tôi sắp kết thúc, rồi hỏi tôi có muốn ở lại không. Nếu đồng ý, tôi sẽ chỉ làm việc với ông, không chuyển sang các bác sĩ khác.

Tôi chưa biết nên quyết định thế nào nên gọi cho người phụ trách đào tạo của bệnh viện để hỏi ý kiến. Người này nói đây là cơ hội tốt vì bác sĩ Arregui rất năng nổ, nổi tiếng và có nhiều kinh nghiệm. Tôi quyết định ở lại thêm sáu tháng.

Nhờ vậy, tôi có thêm thời gian học kỹ thuật phẫu thuật nội soi và được bác sĩ Arregui giới thiệu với đại diện một công ty sản xuất dụng cụ phẫu thuật tại hội nghị ngoại khoa ở Chicago.

Chuyến đi ấy đã mở ra cơ hội đưa một dàn máy nội soi về Việt Nam như thế nào?

Trong hội nghị cuối năm 1991, đại diện công ty hỏi tôi về tình hình y tế Việt Nam và khả năng ứng dụng phẫu thuật nội soi sau khi tôi về nước.

Tôi nói có lẽ phải khoảng 10 năm nữa Việt Nam mới có thể áp dụng kỹ thuật này. Họ ngạc nhiên, hỏi tại sao lại lâu như vậy.

Tôi giải thích rằng đất nước vừa trải qua chiến tranh, kinh tế còn rất khó khăn. Ngay cả chỉ phẫu thuật và găng tay, đôi khi chúng tôi cũng không có đủ. Một dàn máy nội soi có giá ít nhất khoảng 40.000 USD là điều quá xa vời đối với tôi lúc đó.

Sau hội nghị, khi tôi trở về Indianapolis, đại diện công ty gọi điện và thông báo họ có một dàn máy nội soi đã sản xuất được một năm, chỉ dùng để trưng bày chứ chưa phẫu thuật trên thực tế. Họ muốn tặng dàn máy đó để tôi mang về Việt Nam.

Đó là điều vượt xa kỳ vọng của tôi. Họ còn mời tôi đến công ty để lựa chọn các trang thiết bị liên quan đến cuộc mổ.

Nhưng có máy rồi, tôi lại gặp một vấn đề khác: làm sao mang nó về nước?

PGS Nguyễn Tấn Cường ảnh 4PGS Nguyễn Tấn Cường ảnh 5

Xe ba gác chở dàn máy trăm kg trên đường phố TP.HCM

Đúng vậy, máy nội soi có vẻ rất nặng, vậy ông xử lý chuyện quá khổ hành lý thế nào?

Rất khó. Hành lý được mang theo khi đi máy bay lúc đó tối đa khoảng 64 kg, trong khi dàn máy gần 100 kg. Riêng hành lý cá nhân đã chiếm phần lớn trọng lượng, còn nếu trả thêm tiền vận chuyển thì tôi không có khả năng.

Tôi kể chuyện này với một số đồng nghiệp người Mỹ. Họ cũng tò mò về Việt Nam, nhưng trước đó còn e ngại. Khi biết tôi sắp về nước, họ rủ nhau đi cùng để tìm hiểu tình hình.

Tôi nói với họ về chuyện không biết mang dàn máy về thế nào. Cuối cùng, 4-5 người cùng bàn cách giúp đỡ. Mỗi người nhận mang về một món thiết bị trong hành lý của mình.

Nhờ vậy, chúng tôi mới đưa được các bộ phận của dàn máy về Việt Nam.

Nhưng đến cửa khẩu, hải quan không biết đó là thiết bị gì, cũng không biết bác sĩ Nguyễn Tấn Cường là ai. Họ giữ lại toàn bộ và không cho mang ra.

Tôi phải trở về trường trình bày sự việc. Rất may, khi ấy bác sĩ Phan Chiến Thắng, Phó khoa Y, là thành viên Hội đồng Nhân dân TP.HCM, có quen biết với lãnh đạo hải quan. Anh đề nghị nhà trường làm công văn xác nhận đây là thiết bị được tặng từ nước ngoài để phục vụ giảng dạy và đào tạo sinh viên.

Sau khi có công văn bảo lãnh, chúng tôi mới được nhận lại thiết bị.

Tôi thuê một chiếc xe ba gác chở nguyên hệ thống về. Hình ảnh dàn máy phẫu thuật nội soi từ Mỹ được chở trên chiếc xe ba gác giữa đường phố TP.HCM đầu thập niên 1990 đến giờ vẫn là một kỷ niệm khó quên.

Ca phẫu thuật nội soi đầu tiên tại Việt Nam diễn ra như thế nào?

Ngày 23/5/1992, chúng tôi thực hiện ca cắt túi mật nội soi đầu tiên tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Bệnh nhân 63 tuổi. Bà nghe nói mổ nội soi có vết mổ nhỏ, ít đau, hồi phục sớm nên chủ động đăng ký. Tôi giải thích rất kỹ về phương pháp, quá trình phẫu thuật và khả năng ngồi dậy, đi lại sớm sau mổ. Bà đồng ý.

Nhưng đến ngày phẫu thuật, một sự cố xảy ra. Các kỹ thuật viên gây mê giàu kinh nghiệm của Bệnh viện Chợ Rẫy đặt ống nội khí quản nhiều lần không thành công. Các bác sĩ được mời đến hỗ trợ cũng không đặt được ống.

Cuối cùng, chúng tôi phải đưa một máy nội soi mềm vào phòng mổ để tìm cách đặt ống thở. Sau gần hai giờ loay hoay, vùng hầu họng của bệnh nhân đã bị sang chấn nhiều, nên ê-kíp quyết định dừng cuộc mổ.

Tôi rất áy náy, thậm chí cảm thấy có lỗi vì đã giải thích với bà về phương pháp và sự an toàn của ca mổ, nhưng cuối cùng lại không thể tiến hành.

Sau đó, tôi đến xin lỗi và giải thích rằng hội đồng y khoa quyết định cho bà xuất viện, một tuần sau quay lại để các bác sĩ hội chẩn, tìm phương pháp gây mê phù hợp hơn.

Không ngờ bà nói không muốn về, muốn ở lại bệnh viện chờ chúng tôi tìm cách giải quyết.

Khoảnh khắc ấy khiến tôi có lòng biết ơn vô hạn đối với người bệnh. Họ là những người cho phép bác sĩ thăm khám, thực hiện thủ thuật và phẫu thuật trên cơ thể mình, trong khi vẫn có thể xảy ra tai biến, biến chứng.

Các thầy từng dạy chúng tôi rằng người thầy đầu tiên của bác sĩ chính là bệnh nhân. Câu chuyện ấy khiến tôi hiểu sâu sắc hơn điều đó.

“Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng từng gọi điện hỏi thầy Trung có tin tưởng tôi không. Thầy trả lời rằng thầy tin tôi sẽ trở về... Đến giờ, tôi vẫn xúc động và biết ơn những người thầy đã tin tưởng mình”
PGS.TS.BS Nguyễn Tấn Cường

Sau lần thất bại ấy, ê-kíp đã tìm ra cách nào để thực hiện ca mổ?

Khoảng 3-4 ngày sau, một bác sĩ gây mê trẻ vừa tu nghiệp ở Pháp về trao đổi riêng với tôi. Chị nói ở Pháp có thể sử dụng kỹ thuật gây tê ngoài màng cứng để phẫu thuật, nhưng cần giải thích kỹ để bệnh nhân hiểu và đồng ý.

Tôi đến gặp bà, giải thích rằng vì không thể đặt ống thở nên chúng tôi có thể thử phương pháp gây tê ngoài màng cứng. Bà đồng ý.

Trong khoảng hai giờ 15 phút phẫu thuật, bệnh nhân vẫn tỉnh, chỉ được hỗ trợ thêm thuốc an thần qua đường tĩnh mạch. Có những lúc bà kêu đau, nhất là hai bên vai. Tôi vừa mổ vừa động viên, giải thích rằng khí CO₂ được bơm vào ổ bụng để tạo khoảng trống thao tác có thể kích thích cơ hoành, gây đau lan lên vai.

Bà rất can đảm. Cuối cùng, chúng tôi hoàn thành ca cắt túi mật nội soi đầu tiên tại Việt Nam bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng.

Sau này, khi tìm hiểu lịch sử y học, tôi nhận thấy đây là một trường hợp khá hiếm. Trong suốt cuộc đời phẫu thuật, đó cũng là ca mổ duy nhất tôi thực hiện bằng phương pháp gây tê này.

Tôi vẫn luôn biết ơn người bệnh ấy. Nếu bà không kiên trì ở lại, không tin tưởng chúng tôi thêm một lần nữa, có lẽ câu chuyện về ca mổ đầu tiên đã diễn ra theo cách khác.

Khi hoàn thành ca mổ, ông có biết mình vừa thực hiện ca phẫu thuật nội soi đầu tiên tại Việt Nam không?

Không. Lúc đó tôi chỉ cảm thấy lâng lâng, sung sướng vì đã hoàn thành được ca mổ. Mãi sau này, khi báo chí tìm đến tìm hiểu và đăng tải thông tin, chúng tôi mới biết đó là ca phẫu thuật nội soi đầu tiên tại Việt Nam.

Khó khăn lớn nhất trong giai đoạn đầu là kinh phí. Các bệnh viện lớn cũng chưa đủ khả năng mua dàn máy nội soi. Đến khoảng năm 1994, những bệnh viện như Việt Đức, Bình Dân mới bắt đầu mua thiết bị và triển khai phẫu thuật nội soi. Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM bắt đầu triển khai từ năm 1995.

Tôi nghĩ thành công của ca mổ đầu tiên chỉ là bước khởi đầu. Điều tôi trăn trở ngay sau đó là làm sao phổ biến kỹ thuật này để nhiều bệnh viện có thể áp dụng, giúp thêm nhiều người bệnh được hưởng lợi.

Từ 5% ca mổ nội soi đến hành trình truyền nghề khắp các tỉnh

Ông đã làm gì để đưa kỹ thuật mới đến với nhiều bệnh viện hơn?

Sau khoảng 6 tháng mổ thực nghiệm trên chó, tôi luôn mong có thể đưa kỹ thuật này vào thực tế. Khi ca mổ đầu tiên thành công, tôi nghĩ ngay đến việc phổ biến phẫu thuật nội soi cho các cơ sở y tế ở miền Nam và nếu có thể là cả nước.

Năm 1992, tại Bệnh viện Chợ Rẫy, chỉ khoảng 5% trường hợp cắt túi mật được thực hiện bằng nội soi, còn lại 95% là mổ mở. Đến giai đoạn 1993-1995, tỷ lệ cắt túi mật nội soi tăng lên khoảng 73%.

Các bệnh viện tỉnh dần có kinh phí mua thiết bị. Bác sĩ từ các nơi lên Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM học các lớp phẫu thuật nội soi do chúng tôi tổ chức.

Tôi thành lập một ê-kíp gồm năm bác sĩ trẻ từ Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Đại học Y Dược. Chúng tôi vừa làm, vừa rút kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau.

Sau khi các bác sĩ ở tỉnh học xong, họ thường chưa tự tin mổ ngay. Khi có khoảng năm, bảy ca bệnh, họ tập hợp lại và báo cho chúng tôi. Cuối tuần, ê-kíp sẽ đến tận nơi hướng dẫn.

Những ca khó thì chúng tôi trực tiếp thực hiện; với ca đơn giản hơn, chúng tôi hướng dẫn bác sĩ địa phương tự mổ, đứng bên cạnh để hỗ trợ khi cần.

Nhờ vậy, chúng tôi đi từ Cà Mau đến các tỉnh Nam Trung Bộ như Quảng Ngãi, giúp các bệnh viện triển khai phẫu thuật nội soi.

Trong số những bác sĩ đầu tiên tham gia ê-kíp, nhiều người sau này phát triển rất tốt. Bác sĩ Nguyễn Đình Song Huy từng giữ vị trí trưởng khoa điều trị u gan tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Bác sĩ Nguyễn Đình Bắc sau này trở thành Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược và giữ vai trò lãnh đạo trung tâm phẫu thuật nội soi.

Trung tâm này dần được biết đến ở nước ngoài, đón bác sĩ từ nhiều nước ASEAN như Indonesia, Malaysia, Philippines đến học tập, trao đổi kinh nghiệm.

Với tôi, một ca mổ thành công chỉ mở ra một con đường. Con đường ấy có trở thành đại lộ hay không phụ thuộc vào việc có thêm nhiều người cùng bước đi, cùng học hỏi và tiếp tục phát triển kỹ thuật.

PGS từng được nhiều người thầy lớn dìu dắt. Điều gì từ họ ảnh hưởng đến cách ông làm nghề và dạy học trò?

Tôi chịu ảnh hưởng từ nhiều người thầy, trong đó có Giáo sư Nguyễn Đình Hối và Giáo sư Trương Công Trung. Ngoài ra, các thầy ở Bệnh viện Chợ Rẫy như Giáo sư Nguyễn Khánh Dư, Phó giáo sư Nguyễn Thế Hiệp và nhiều bác sĩ đàn anh cũng giúp tôi rất nhiều.

Có những lúc gặp ca bệnh khó, tôi chưa biết giải quyết thế nào. Chỉ một lời gợi ý ngắn của người đi trước có thể giúp mình tìm ra hướng xử trí mà đọc sách chưa chắc đã nhận ra ngay.

Trong y khoa, việc học không chỉ diễn ra trong lớp mà còn ở buồng bệnh, phòng mổ, những ca trực cấp cứu và những lần thầy trò cùng theo dõi bệnh nhân. Có những ca mổ kéo dài suốt đêm, thầy hướng dẫn trò phụ mổ. Khi thầy mệt, có thể nghỉ một lúc để học trò tiếp tục làm dưới sự giám sát.

Mối quan hệ ấy vừa là thầy trò, vừa gần gũi như anh em. Kinh nghiệm thực hành và sự chỉ dẫn trực tiếp từ người đi trước rất quan trọng đối với quá trình trưởng thành của một bác sĩ.

Tôi cũng nhận thấy trong y khoa có truyền thống tự hào về nơi mình được đào tạo, về người thầy đã dìu dắt mình. Ở miền Bắc, nhiều bác sĩ phẫu thuật tự hào là học trò của Giáo sư Tôn Thất Tùng. Những truyền thống như vậy có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của từng cá nhân và cả ngành y.

Ông cảm thấy thế nào khi nhìn thấy học trò tiếp tục phát triển những kỹ thuật mà mình từng đặt nền móng?

Tôi rất vui. Một trong những người học trò mà tôi nhớ là Giáo sư Nguyễn Hoàng Định. Anh thuộc thế hệ bác sĩ tiếp nối sau nhóm đầu tiên, từng là bác sĩ nội trú tại Bệnh viện Chợ Rẫy.

Thầy Trương Công Trung giao tôi hướng dẫn anh thực hiện luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú. Anh đã nghiên cứu các phẫu thuật nội soi, trong đó có cắt ruột thừa. Anh rất năng nổ, có năng khiếu và đặc biệt giỏi công nghệ.

Ngày ấy, anh và các đồng nghiệp trẻ giúp chúng tôi biên tập những cuộn băng ghi hình phẫu thuật dài hai, ba tiếng thành các đoạn khoảng năm, sáu phút để phục vụ giảng dạy. Khi còn học ở Mỹ, tôi biết công việc này tốn rất nhiều thời gian, nên tôi rất trân trọng sự hỗ trợ của các học trò.

Bây giờ, khi thấy anh thực hiện được những kỹ thuật khó như phẫu thuật van tim ít xâm lấn và tham gia phát triển chương trình ghép tim tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, tôi rất mừng. Tôi từng gọi điện chúc mừng anh khi biết những thành tựu ấy.

Gần đây, anh còn viết cho tôi một lá thư. Anh nói tôi không chỉ truyền đạt kiến thức chuyên môn mà còn truyền cảm hứng, khơi dậy khát vọng cống hiến và tinh thần dám đổi mới ở học trò.

Tôi rất xúc động vì bình thường chúng tôi gặp nhau ở các hội nghị khoa học, trao đổi chuyên môn, nhưng ít khi nói với nhau những lời tình cảm như vậy. Đó là lần đầu tiên tôi nhận được những lời chia sẻ như thế từ anh.

Tôi nghĩ điều quý nhất của nghề dạy học là nhìn thấy những người học trò trưởng thành, đi xa hơn mình và tiếp tục truyền lại những giá trị tốt đẹp cho thế hệ sau.

PGS Nguyễn Tấn Cường ảnh 6

Phẫu thuật viên không thể ngừng học trong thời đại AI

Sau hơn 30 năm kể từ khi phẫu thuật nội soi được đưa vào Việt Nam, PGS đánh giá thế nào về vị thế của ngoại khoa Việt Nam?

Y học Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Chúng ta thực hiện được nhiều phẫu thuật khó, có những trường hợp người bệnh từ nước ngoài được giới thiệu đến Việt Nam điều trị.

Tôi nhớ năm 1995, khi dự hội nghị phẫu thuật nội soi châu Á - Thái Bình Dương, tôi có dịp trao đổi với một chuyên gia ở Singapore. Ông nói qua tiếp xúc, ông đánh giá trình độ phẫu thuật của bác sĩ Việt Nam rất tốt. Khi ấy, thế giới mới bắt đầu biết đến các bác sĩ Việt Nam nhiều hơn.

Ngày nay, những thành tựu chuyên môn tiếp tục giúp vị thế y tế Việt Nam được cải thiện. Chẳng hạn, báo chí từng đưa tin về trường hợp thai nhi mắc dị tật tim bẩm sinh được các bác sĩ tại Việt Nam can thiệp. Sau lần đầu chưa thành công, ê-kíp Bệnh viện Từ Dũ phối hợp Bệnh viện Nhi đồng 1 thực hiện lại và đạt kết quả tốt. Người mẹ và em bé tiếp tục được theo dõi sau đó.

Những trường hợp như vậy cho thấy năng lực chuyên môn và tinh thần kiên trì của đội ngũ y tế trong nước.

Tuy nhiên, tôi cho rằng đào tạo y khoa Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm để được công nhận tương đương các nước tiên tiến. Chất lượng đào tạo giữa các cơ sở chưa đồng đều. Các trường lớn ở TP.HCM, Hà Nội, Huế có thể bảo đảm chất lượng ở mức tốt, nhưng ở những khu vực khác, điều kiện đào tạo và thực hành còn khác biệt.

Khi sang Mỹ, tôi thấy họ có chương trình đào tạo tương đối đồng đều giữa các bang, dù điều kiện kinh tế mỗi nơi khác nhau. Sinh viên thường học bốn năm đại học, bốn năm y khoa, sau đó phải học nội trú. Tùy chuyên ngành, quá trình đào tạo có thể kéo dài thêm ba đến năm năm hoặc lâu hơn.

Đào tạo liên tục và thực hành là những yếu tố quan trọng để bảo đảm chất lượng bác sĩ. Tôi mừng khi nhiều trường đại học tư mở ngành sức khỏe, nhưng cũng lo nếu sinh viên không có đủ cơ sở thực hành, không được học tại các bệnh viện lớn và không được hướng dẫn bởi những thầy thuốc giàu kinh nghiệm.

“Một ca mổ thành công chỉ mở ra một con đường. Con đường ấy có trở thành đại lộ hay không phụ thuộc vào việc có thêm nhiều người cùng bước đi”
PGS.TS.BS Nguyễn Tấn Cường

Trong bối cảnh AI và robot ngày càng được ứng dụng trong y học, vai trò của phẫu thuật viên sẽ thay đổi ra sao?

Trước đây, bác sĩ phải làm gần như toàn bộ quá trình: khám bệnh, chẩn đoán, quyết định điều trị, dùng thuốc, phẫu thuật và theo dõi biến chứng sau mổ. Công việc rất nặng nề, đòi hỏi nhiều thời gian và sức lực.

AI có thể hỗ trợ bác sĩ đọc hình ảnh, phát hiện nguy cơ, cung cấp thông tin phục vụ chẩn đoán và gợi ý các hướng điều trị dựa trên dữ liệu. Nhờ đó, công việc có thể nhẹ nhàng và chính xác hơn.

Nhưng AI không thể thay thế con người trong những quyết định quan trọng như có nên phẫu thuật hay không, khi nào nên mổ và lựa chọn phương pháp nào. Đó vẫn là trách nhiệm của phẫu thuật viên, dựa trên tình trạng cụ thể của người bệnh và bằng chứng khoa học.

Y học hiện đại đòi hỏi quyết định điều trị phải dựa trên bằng chứng. Bác sĩ cần biết các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ thành công, biến chứng và nguy cơ của từng phương pháp ra sao.

Vì vậy, tôi không nghĩ robot sẽ thay thế phẫu thuật viên. Nhưng bác sĩ cần biết sử dụng AI và nên học thêm kỹ thuật phẫu thuật robot nếu có điều kiện.

Vậy bác sĩ trẻ cần chuẩn bị gì để theo kịp sự phát triển của y học, thưa ông?

Điều quan trọng nhất là phải biết lỗ hổng kiến thức của mình nằm ở đâu để tìm cách bổ sung.

Internet và AI hiện cung cấp rất nhiều kiến thức, nhưng người học phải biết mình đang thiếu gì, cần tìm hiểu vấn đề nào và đánh giá thông tin ra sao. Trong y khoa có một quan niệm rằng bác sĩ là sinh viên y khoa suốt đời. Nếu không tiếp tục học, bác sĩ sẽ nhanh chóng lạc hậu.

Ngay cả tôi, dù đã nghỉ hưu tại Đại học Y Dược TP.HCM, vẫn được trường mời giảng dạy. Hàng tuần, tôi có thể đến Bệnh viện Chợ Rẫy hướng dẫn sinh viên, bác sĩ trẻ, tham gia thảo luận ca bệnh hoặc chấm luận văn, luận án.

Nếu không cập nhật kiến thức, đôi khi sinh viên đọc tài liệu mới sẽ hỏi tại sao điều thầy vừa giảng đã cũ. Có lúc tôi phải nói với các em rằng hãy cho tôi về đọc lại tài liệu, hoặc gửi đường dẫn để tôi xem thêm.

Các em có thể đọc và hiểu theo một cách, còn người đã trải qua nhiều năm thực hành có thể nhìn vấn đề ở góc độ khác. Khi cùng trao đổi, thầy và trò đều có cơ hội học thêm.

Tôi vẫn thích đi dạy vì có thể chia sẻ kinh nghiệm cho thế hệ trẻ. Đó là điều rất quý đối với tôi ở giai đoạn này của cuộc đời.

Điều ý nghĩa nhất

Sau hơn 50 năm làm nghề, điều gì khiến ông thấy ý nghĩa nhất?

Ngành y có tính nhân văn rất lớn. Khi tiếp xúc với người bệnh mỗi ngày, bác sĩ phải hiểu hoàn cảnh vật chất và điều kiện kinh tế của họ để tìm cách hỗ trợ phù hợp.

Chẳng hạn, nếu người cha là trụ cột kinh tế trong gia đình, nhưng mắc bệnh và không có tiền điều trị, bác sĩ có thể giúp bằng nhiều cách. Có người giảm hoặc không thu phí điều trị; có người vận động bạn bè, người quen hỗ trợ những trường hợp khó khăn.

Khi người bệnh hồi phục, họ có thể tiếp tục nuôi dạy con cái, giúp con được học hành đầy đủ và có tương lai tốt hơn. Đó là những giá trị mà nghề y có thể mang lại, vượt ra ngoài một ca điều trị.

Với tôi, làm nghề y không chỉ là thực hiện thành công một ca mổ. Đó còn là cơ hội gặp gỡ nhiều người, hiểu những hoàn cảnh khác nhau và giúp họ vượt qua bệnh tật trong khả năng của mình.

Nếu được quay lại hơn 50 năm trước, ông có chọn học y và theo ngoại khoa một lần nữa không?

Tôi vẫn chọn như vậy. Có lẽ không phải tôi chọn ngành y ngay từ đầu mà là ngành y chọn tôi.

Tôi từng không thích học y, thấy các bạn học vất vả vì phải học thuộc lòng. Nếu ngày ấy tôi đi được New Zealand, có lẽ tôi đã học kỹ sư hóa học chứ không liên quan đến ngành y.

Nhưng việc học tiếng Anh để chuẩn bị du học lại vô tình giúp tôi có lợi thế khi thi vào y khoa. Những điều tưởng như tình cờ lại nối tiếp nhau, đưa tôi đến với ngành y, rồi ngoại khoa, rồi phẫu thuật nội soi.

Nhìn lại, tôi thấy đó là một mối lương duyên. Nếu được lựa chọn lại, tôi vẫn đi con đường ấy.

Sau cùng, từ những ngày thiếu thốn thiết bị đến thời đại AI và robot, theo bác sĩ, điều gì có thể giữ nguyên giá trị của nghề y?

Tôi nghĩ đó là tinh thần làm nghề nghiêm túc, sự tận tâm với người bệnh và ý thức phải học hỏi suốt đời. Kỹ thuật y học sẽ thay đổi từng ngày, nhưng bác sĩ vẫn phải đặt người bệnh ở trung tâm, đưa ra quyết định dựa trên bằng chứng và không ngừng nâng cao năng lực của mình.

Tôi rất vui khi có cơ hội chia sẻ những kinh nghiệm đã tích lũy với các bác sĩ trẻ. Mong rằng các thế hệ sau sẽ tiếp tục học hỏi, phát triển những kỹ thuật mới và làm tốt hơn những gì thế hệ chúng tôi đã làm.

Cảm ơn PGS Nguyễn Tấn Cường vì cuộc trò chuyện cởi mở, chân thành và nhiều cảm xúc. Những câu chuyện về hành trình đưa phẫu thuật nội soi về Việt Nam cùng tâm huyết với việc chuyển giao kỹ thuật của ông là nguồn cảm hứng quý giá cho các thế hệ thầy thuốc tiếp nối.

PGS Nguyễn Tấn Cường ảnh 7

Znews Vodcast Team

Sản xuất: Phan Nhật - Bích Huệ
Nội dung: Nguyễn Thuận
Video: Văn Nguyện - Quang Thông
Ảnh: Phương Lâm
Hỗ trợ: Minh Châu