Thứ Ba, 13 tháng 10, 2026

Nghịch lí nghề y: cứu người, nhưng cũng dễ hại người

 

Đây là một bài phát biểu hay của (tôi đoán qua hình) GS Phạm Mạnh Hùng trong một buổi lễ tốt nghiệp tại Khoa Y, ĐHQG TPHCM, không rõ ngày tháng. Những ý trong bài này vẫn còn y chang tính thời sự.
Sau đây là văn bản do AI trích xuất từ video:
"Tôi đã nói rồi, quy luật nhân quả không đâu thể hiện bằng trong nghề nghiệp y tế của chúng ta.
Điểm nữa, nghề y tuy là một nghề sạch sẽ, thầy thuốc non lúc nào cũng sạch chẽ bành bao, nhưng lại là một nghề rất dễ gây bệnh cho người khác. Tôi sẽ xin dẫn chứng ở phía sau.
Nghề y hay gây ra sai sót làm chết người. Và sai sót này là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong trong nhân loại.
Có lẽ hôm nay, các bạn ngồi đây chưa nhận thức được điều này, và các bạn vẫn nghĩ rằng nghề y là cứu sống người, chứ tại sao nghề y lại làm chết người. Tôi sẽ dẫn chứng để các bạn thấy.
Nghề y chúng ta rất dễ gây ra sai sót, và sai sót y khoa là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu của nhân loại.
Nghề y là một nghề rất dễ gây ra đói nghèo cho nhân dân và người bệnh.
Thưa các bạn, nếu một bác sĩ kê đơn với những thứ thuốc đắt tiền, lạm dụng các xét nghiệp, nhằm mục đích tăng doanh thu cho doanh nghiệp, cho bệnh viện, tăng thu nhập cho bản thân mình, thì người ấy là tội đồ để gây ra nghèo đói cho nhân dân.
Thưa các bạn, nghề y là một nghề có nhiều cơ hội giấu dốt. Bệnh nhân hỏi, nói băng mạ, ra vẻ ta đây rất hiểu biết, nhưng cuối cùng toàn là nói sai.
Và thưa các bạn, nghề y là một nghề có nhiều cơ hội vi phạm về đạo đức.
Và đặc biệt, trong thời đại công nghệ cao, lại càng nhiều cơ hội vi phạm về đạo đức. Tôi cũng báo cáo với Thầy Hiệu trưởng, mong Thầy họp Trung ương, mong Thầy cũng nói với Trung ương rằng công nghệ càng cao, quản lý y tế càng khó khăn. Công nghệ càng cao, nghề y càng dễ vi phạm về đạo đức.
Thế mà, khi công nghệ cao phát triển, cán bộ chúng ta lại hay nghĩ rằng, vi phạm đạo đức sẽ ít hơn trước, và quản lý dễ hơn trước. Đây là một nhận thức hết sức sai lầm trong ngành y tế của chúng ta.
Chính vì công nghệ cao phát triển đã dẫn đến thoái hóa, tha hoá cán bộ chúng ta, và bộ trưởng bộ y tế cũng đã thò tay vào còng số 8, và hỏi rằng, đó là thời đại nào? Thời đại công nghệ cao.
Tại sao thời đại anh Phước và tôi học ở Hà Nội, chiến tranh khắc liệt như thế, nhưng bộ trưởng bộ y tế có ông nào thò tay vào còng số 8 đó? Nhưng bây giờ, rất dễ cơ hội là vi phạm về đạo đức.
Thưa các bạn, đó là những điều tôi muốn nói để các bạn quan tâm. Bây giờ tôi xin dẫn chứng.
Đây là con số tử vong của nước Mĩ. Ba nguyên nhân hàng đầu, tử vong là tiêm mạch (?), ung thư, và nguyên nhân thứ ba là sai sót y khoa.
Và sai sót y khoa là do ai gây ra? Do chúng ta gây ra.
Rất mong các bạn quan tâm.
Có lẽ hôm nay tôi tin chắc nhiều bạn, bác sĩ mới tốt nghiệp, mình ngỡ ra rằng, nghề mình mà hóa ra, cũng làm chết bệnh nhân. Mong các bạn cảnh giác và cẩn thận ngay từ ngày hôm nay, chứ không chờ lâu hơn nữa.
Nếu chúng ta so sánh những bệnh nhân bị chấn thương, nguyên nhân gây ra tử vong do sự cố nhầm lẫn về y khoa là cao nhất so với những nguyên nhân khác như tai nạn giao thông, như rơi ngã, như đuối nước, và kể cả tai nạn máy bay. Như thế là tai nạn do điều trị, sai sót về y khoa, một nguyên nhân gây ra tử vong. Mong các bạn quan tâm.
Tôi xin kể vài trường hợp về sai sót của các bác sĩ Việt Nam.
Trường hợp cháu bé Trần Anh Đ, 21 tháng tuổi, bị cắt nhầm vào bàng quang khi phẫu thuật, phát vị ở bệnh. Và chắc các bạn cũng biết, dò bàng quang là một trong những nỗi khủng khiếp của bệnh nhân.
Trường hợp thứ hai là mổ nhầm chân tại bệnh viện Việt Đức, bệnh viện vào loại cao nhất của nước ta, mà mổ nhầm chân trái sang chân phải.
Thứ ba, trường hợp mổ nhầm tay tại bệnh viện 115 Nghệ An, năm 2016.
Thứ tư, quả thận, bác sĩ bệnh viện đã qua Cần Thơ lỡ tay, cắt luôn cả hai quả thận.
Và trường hợp thứ năm, bệnh nhân ở Bắc Cạn, vì bệnh viện quên một chiếc banh ở trong bụng, từ năm 1998 đến tháng 12 năm 16, là 16 năm sau, thưa các bạn, mới phát hiện ra."
___
Nghe xong bài này làm tôi nhớ tới câu nói mà người đời gán cho Bác sĩ phẫu thuật người Pháp René Leriche (1879–1955):
“Every surgeon carries within himself a small cemetery, where from time to time he goes to pray.”
Tôi nghĩ có thể dịch sang tiếng Việt là:
“Trong lòng mỗi bác sĩ phẫu thuật đều có một nghĩa địa nhỏ, nơi thỉnh thoảng họ trở về để tưởng nhớ những bệnh nhân đã khuất.”
Tôi nghĩ BS Leriche không có ý nói rằng bác sĩ nào cũng làm chết bệnh nhân vì sai sót, mà nói đến một sự thật của nghề y: dù tài giỏi và tận tâm đến đâu, người thầy thuốc vẫn có những trường hợp thất bại, những bệnh nhân không thể cứu sống và những quyết định khiến họ ray rứt suốt đời.

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026

CỨU VẬT VẬT TRẢ ÂN…

 

Ông bạn Nguyễn Duy Long của mình ít viết FB, nay sau ba trăm năm ông ấy share bài này, Cả bác sĩ Vũ Hải Sơn tức Xơn ca của mình, tuy rất yêu thương bạn bè cùng ngành nhưng bao giờ cũng công bằng. Mình không ngại chia sẻ cùng hai ông bạn...

(Bài bạn Nguyễn Duy Long share từ FB Truong Quoc Hung nha)
CỨU VẬT VẬT TRẢ ÂN…
1- Mặc dù tay phóng viên minh lương đã rất gồng khi phóng tác bài viết theo hướng bôi tro trét trấu bs V nhưng mình đọc đi đọc lại vẫn ko thấy bs V tư lợi, trục lợi chỗ nào?
2- Bài báo nói về 1 bà cô ở Cà Mau lên nhà thương Chợ Rẫy (Sài Gòn) mổ sỏi túi mật. Tại đây, bà này sợ lưu trú tốn kém, muốn khỏi xếp hàng, nên chủ động gợi ý cho bs V xin được mổ ưu tiên theo diện cấp cứu (mặc dù thực tế ko phải vậy).
Bs V đã nhiều lần giải thích nhưng bà này ko chịu, nằng nặc đòi mổ sớm theo diện bảo hiểm cho bằng được, & KHỞI XƯỚNG gửi phong bì xin xỏ. Với sự khẩn khoản của bà, bs V đành tìm cách xin với équipe mổ theo chuẩn cấp cứu giúp đỡ. Nhưng cứu nhân nhân trả oán: bà này gọi phóng viên đi theo ghi hình lén lấy bằng chứng đấu tố bs nhận phong bì. Đọc bài mà thấy xót xa cho bs V.
//
3- Về mặt chuyên môn, bạn phải hiểu là sỏi túi mật ko phải lúc nào cũng mổ cấp cứu. Tùy tình huống, bs sẽ thăm khám & nhận định ca nào tối khẩn, ca nào khẩn, ca nào bán cấp, ca nào theo dõi. Nếu ko thuộc diện phải xử lý ngay thì bệnh nhân sẽ phải chờ vài ngày, vài tuần. Ko có gì lạ hết. Xếp hàng trong khám chữa bệnh là lẽ thường tình, đặc biệt khi đây là nhà thương tuyến cuối, nhu cầu khám chữa bệnh ức vạn.
Nếu bạn thấy vậy là “lâu”, là “ác ôn” thì ở Tây Tàu có khi phải chờ vài tháng lận đó. Bạn bị ốm, thì người khác cũng đau. Bạn càu nhàu, ko lẽ người kia hoan hỉ rất???
Nếu bệnh nhẹ mà vẫn muốn nhanh? Mời bạn xùy xèng vô nhà thương tư nhân, mọc như nấm around, sẽ được lên dĩa sáng-chiều. Con số dao động từ 20-100tr, tùy nơi.
Hay thích nữa có thể qua Tân Gia Ba, 150-300tr/dao. Nhưng nhớ là ở bển nhà nước tư bản sài lang nên đừng có quen tay “tác động vật lý” bs. Họ ko có "phê bình nghiêm khắc" như VN mà cho đi tù mọt gông đó!
4- Tánh kỳ. Vừa muốn bs xịn, vừa muốn rẻ, vừa muốn đạp lên đầu thiên hạ ko phải chờ, lại vừa muốn quay chụp tố cáo vị bs vừa tương trợ mình thì quả là bó tay với chị đại.
5- Cái dở của bs V đó là đã động lòng trắc ẩn sai người.
Vì muốn bệnh nhân về nhanh, nên bác cất công xin xỏ những khoa phòng khác linh động tạo điều kiện. Gọi là “xin” (theo nghĩa đen) vì việc này đem lại ko ít phiền toái cho các bs liên quan: nào là phải giải trình, phải cân chỉnh hồ sơ bệnh án, phải sắp xếp buồng phòng, trù bị vật tư, đánh giá tương quan nặng-nhẹ với những ca bệnh khác thay vì cứng nhắc theo quy trình… Nói chung hầm bà lằng. Bạn nào làm công lập sẽ thấy thời gian xử lý hành chánh phải gấp 5-7 lần thời gian suy nghĩ về chuyên môn, nên rất ít có bs nào muốn “linh động”. Cứ quy trình mà phang, đỡ rắc rối.
6- Bạn phải cầm bảo hiểm đi khám 1 lần mới sáng mắt, sáng lòng. Lấy 1 ví dụ nhỏ: giờ bạn đau khớp gối, bs kê thuốc giảm đau, nhưng sợ ảnh hưởng đến bao tử của bạn nên kèm thêm vài viên thuốc bao tử. Hợp lý đúng chưa?
Nhưng mà bảo hiểm hổng có cho làm vậy.
Nó yêu cầu bạn cứ uống giảm đau, chừng nào đau lăn lộn quằn quại, ói ra 1 bụm máu, vật vờ như zombie, đi khám, thì lúc đó bs mới được kê thuốc bao tử trong bảo hiểm (!). Bs dư sức hiểu cái quy trình vô tri đó, nhưng ko nỡ nhắm mắt làm ngơ để bộ đồ lòng bạn “ăn sẹo” nên đành phải ghi khống thêm các mã bệnh ICD mới, như “loét dạ dày” (k25) hoặc “GERD” (k21) chẳng hạn, đặng cho thuốc bao tử luôn ngay từ đầu. Nói cách khác, bs “sai” với bảo hiểm để được “đúng” cho bệnh nhân chứ ko hề tơ hào bất cứ điều gì.
7- Nói dông dài như vậy là để bạn hiểu rằng bs ở VN muốn làm khác quy trình ko hề dễ.
Trong trường hợp này, bs V ko hề tư lợi. Trái lại, bác còn rất có tâm khi chân thành hỗ trợ cho 1 tha nhân lữ thứ. Căn cứ theo bài báo thì bs V cũng ko gây khó dễ hoạch họe gì, ngược lại, còn giải thích tường tận cho bệnh nhân an tâm, để rồi gặp kẻ phản phúc. Vì muốn giúp mà bs V mang họa. Khổ thân bác.
Bài vầy mà báo cũng dám viết, dám duyệt, dám đăng??? Coi có khác gì lá cải ko? Công nhận mặt dày dễ sợ.
8- Từ nay các bs Chợ Rẫy nói riêng & ở VN nói chung có lẽ sẽ giảm dần tính “bao đồng”. Suy cho cùng, người bất lợi là chính bệnh nhân chứ bs chả mất gì. Có khi còn khoẻ hơn. Mà bảo hiểm lại càng khoái.
9- Nhưng tui xin trân trọng bs V. Bác chả việc gì phải dốc lòng với kẻ qua cầu rút ván. Bác cày ải hơn chục năm đèn sách như trâu, ko phải để đi hầu cho lũ bất lương. Hãy trị cho tui – những người có tiền, có lòng biết ơn, có suy nghĩ, có trăn trở & tuyệt đối ko bao giờ đâm chọt người đã cưu mang, dù chỉ là thành ý. Nếu bọn vô ơn có đến, kể cả "ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa", bác cứ thong thả pha ấm Oolong, yêu cầu đóng phí, ký giấy thủ thuật rồi báo vui lòng xếp hàng chờ tới lượt mình - vì ở đây ai cũng cấp cứu, thế mới đúng quy trình y khoa mà VN ngày đêm hướng tới.
10- Ngoài tự nhiên, những con thú bị thương mà thấy ai đến giúp thì nó cũng nằm im cho họ giúp, chả có con nào cắn lại cả.
Bạn biết vì sao ko? Vì mấy con cắn lại người cứu mình tuyệt chủng sạch sẽ rồi.
PS: ảnh là từ FB BS Vũ Hải Sơn.

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

SENS CLINIQUE – TRỰC GIÁC LÂM SÀNG TRONG Y HỌC HIỆN ĐẠI

 

Sens clinique – Y khoa Sài Gòn trước năm 1975 gọi là Trực giác lâm sàng – là một khái niệm vừa mơ hồ vừa vô cùng quý giá. Mơ hồ vì nó không thể đo lường trực tiếp bằng con số. Quý giá vì chỉ những người đi qua hàng ngàn giờ bên giường bệnh mới hiểu nó có giá trị quyết định thế nào trong những khoảnh khắc sinh tử của người bệnh.

Trực giác lâm sàng là khả năng của người thầy thuốc trong việc nhận biết, đánh giá và đưa ra quyết định nhanh chóng, chính xác về tình trạng bệnh nhân dựa trên sự nhạy cảm nghề nghiệp và khả năng quan sát tinh tế – ngay cả khi chưa có đầy đủ kết quả xét nghiệm. Nói một cách đơn giản, đó là sự nhận dạng mẫu hình (pattern recognition) giúp bác sĩ kết nối các dấu hiệu mờ nhạt thành một hướng chẩn đoán đúng.

Trong kỷ nguyên của Y học hiện đại với vô số công nghệ tân tiến – siêu âm tại giường (POCUS), CT-Scan 128 dãy, MRI, Troponin T siêu nhạy... liệu trực giác lâm sàng có trở nên lỗi thời? Sự thật thì ngược lại: càng nhiều máy móc, chúng ta càng cần sens clinique hơn bao giờ ever.

I. TẠI SAO THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ VẪN CẦN TRỰC GIÁC LÂM SÀNG?

Công nghệ mang lại dữ liệu, nhưng chỉ có tư duy lâm sàng mới biến dữ liệu thành quyết định điều trị. Có 3 lý do cốt lõi làm cho sens clinique trở thành kỹ năng không thể thay thế:

  1. Máy móc không thể thay thế chỉ định của con người: Bạn không thể cho một bệnh nhân đau đầu chụp MRI toàn thân hay làm bộ xét nghiệm tự miễn rải thảm. Chính trực giác lâm sàng ban đầu giúp bạn phân biệt một cơn đau đầu do căng thẳng (tension headache) với một cấp cứu xuất huyết dưới nhện cần chụp CT khẩn cấp. Không có tư duy định hướng, bác sĩ sẽ rơi vào bẫy "làm xét nghiệm rải thảm" – vừa tốn kém, vừa dễ gặp hiện tượng dương tính giả dẫn đến các can thiệp vô ích và rủi ro.

  2. Dữ liệu cận lâm sàng luôn cần được phiên giải trong ngữ cảnh: Bản thân máy móc không "nói dối", nhưng chỉ số xét nghiệm luôn có độ nhạy và độ đặc hiệu nhất định. D-dimer tăng tự nhiên trong thai kỳ, Troponin tăng trong suy thận hay nhiễm trùng huyết (sepsis), PCR lao vẫn có tỷ lệ âm tính giả. Một bác sĩ phụ thuộc máy móc sẽ kết luận: "Máy báo bình thường nghĩa là không có bệnh". Người có sens clinique sẽ suy nghĩ: "Kết quả này không phù hợp với bệnh cảnh lâm sàng, mình phải tìm hiểu lại".

  3. Nghệ thuật chữa lành và Khai thác bệnh sử: Cận lâm sàng chỉ cho thấy một lát cắt sinh học, nhưng bệnh nhân cần một người thầy thuốc. Việc đặt tay thăm khám cẩn thận, quan sát ánh mắt lo âu của người bệnh không chỉ giúp thu thập 80% thông tin chẩn đoán từ bệnh sử (Anamnesis) mà còn tạo ra niềm tin và hiệu ứng chữa lành. Đúng như Giáo sư William Osler từng dạy: "Hãy lắng nghe bệnh nhân, họ đang nói cho bạn biết chẩn đoán đấy".

II. BỐN CHÂN KIỀNG TẠO NÊN TRỰC GIÁC LÂM SÀNG

Sens clinique tuyệt đối không phải là một "năng khiếu trời cho" hay sự "đoán mò". Nó là sản phẩm của một Khung tư duy 4 chân kiềng được rèn luyện nghiêm túc:

                  [Khả năng Suy luận Lâm sàng]
                             /    \
                            /      \
                           /        \
[Kinh nghiệm Lâm sàng] <------> [Lý thuyết vững vàng & EBM]
                           \        /
                            \      /
                             \    /
               [Tư duy Phản tỉnh & Nhận thức Thiên kiến]

1. Kinh nghiệm lâm sàng – Thư viện mẫu hình của não bộ

Não bộ của một bác sĩ giàu kinh nghiệm giống như một thư viện lưu trữ hàng ngàn mẫu hình bệnh lý (patterns). Khi gặp 1.000 ca đau ngực, não đã tự sắp xếp:

  • Đau do hội chứng vành cấp: vã mồ hôi, mặt tái, tay ôm ngực, cảm giác co thắt.

  • Đau do trào ngược: cảm giác nóng rát sau xương ức, liên quan đến bữa ăn.

  • Đau do rối loạn lo âu: than phiền rất nhiều nhưng cử chỉ và sinh hiệu hoàn toàn ổn định.

Khi ca thứ 1.001 bước vào, hệ thống tư duy nhanh (System 1) lập tức phát tín hiệu cảnh báo. Nhưng kinh nghiệm không đo bằng số năm tích lũy. Nếu đi lâm sàng 10 năm mà không đúc kết sau mỗi ca bệnh, đó chỉ là "1 năm kinh nghiệm được lặp lại 10 lần".

2. Lý thuyết sách vở & Y học chứng cứ (EBM) – Bộ khung vững chắc

Kinh nghiệm cho bạn biết "cái gì" (What), nhưng Lý thuyết cho bạn biết "tại sao" (Why).

  • Nếu hiểu sâu cơ chế sinh lý bệnh của phù phổi cấp do suy tim trái, bạn sẽ giải thích được tại sao ran ẩm lại dâng từ đáy lên đỉnh phổi, tại sao bệnh nhân lại khó thở kịch phát về đêm. Lý thuyết giúp bạn đóng chặt từng mảnh kinh nghiệm vào bộ khung trí tuệ.

  • Bên cạnh lý thuyết kinh điển, Y học chứng cứ (Evidence-Based Medicine - EBM) là hơi thở của sens clinique hiện đại. Cập nhật các Hướng dẫn điều trị (Guidelines) và bằng chứng y khoa mới giúp trực giác của bạn không bị lạc hậu hay bảo thủ.

3. Khả năng suy luận lâm sàng – Người nhạc trưởng

Đây là năng lực kết nối dữ kiện để đưa ra quyết định trong không gian còn nhiều nghi vấn. Người suy luận giỏi kết hợp nhuần nhuyễn hai hình thức tư duy:

  • Tư duy thuận: Đi từ triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng để tổng hợp thành chẩn đoán.

  • Tư duy ngược: Đặt ra một giả thuyết chẩn đoán nguy hiểm trước, rồi chủ động đi tìm các dấu hiệu để chứng minh hoặc loại trừ nó. (Ví dụ: "Nếu ca này là chèn ép tim cấp, mình phải tìm gì? Huyết áp tụt? Tĩnh mạch cổ nổi? Tiếng tim mờ?").

Khả năng suy luận cũng cho bác sĩ sự bản lĩnh trong xử trí cấp cứu đe dọa tính mạng (như chèn ép tim, sốc mất máu do chửa ngoài tử cung vỡ) – nơi mà bác sĩ phải can thiệp tức thì dựa trên định hướng lâm sàng vững chắc mà không thể chờ đợi đầy đủ kết quả cận lâm sàng.

4. Tư duy phản tỉnh & Kiểm soát thiên kiến tư duy – Tấm lá chắn an toàn

Trực giác (System 1) phản ứng rất nhanh nhưng lại rất dễ sập bẫy các thiên kiến nhận thức (Cognitive biases):

  • Thiên kiến xác nhận (Confirmation bias): Chỉ chú ý đến các dấu hiệu ủng hộ chẩn đoán ban đầu của mình và bỏ qua các dấu hiệu chống lại nó.

  • Thiên kiến neo giữ (Anchoring bias): Bị ấn tượng ban đầu làm lu mờ các dữ kiện mới xuất hiện.

Do đó, người có sens clinique bản lĩnh luôn duy trì Tư duy phản tỉnh (Reflective Practice): Luôn bật tư duy phân tích (System 2) để tự đặt câu hỏi: "Điều gì sẽ xảy ra nếu chẩn đoán của mình sai?", "Có dấu hiệu nào không phù hợp với bệnh cảnh này không?". Họ trăn trở sau mỗi ca bệnh, ghi chép lại những chẩn đoán đúng lẫn những sai lầm suýt trả giá để mài giũa lại trực giác của mình.

III. RÈN LUYỆN SENS CLINIQUE NHƯ THẾ NÀO?

Không có con đường tắt để sở hữu sens clinique, chỉ có sự kỷ luật nghiêm túc trong thực hành hàng ngày:

  1. Thực hành khám lâm sàng tỉ mỉ: Đừng khám bệnh một cách qua loa hay thủ tục. Hãy mô tả triệu chứng một cách chính xác: không viết "phổi có ran", mà hãy ghi rõ "ran nổ hạt nhỏ, tập trung ở đáy phổi phải, không mất đi sau khi ho".

  2. Học theo ca bệnh (Case-based learning): Mỗi khi gặp một ca bệnh khó hoặc thú vị trên lâm sàng, buổi tối hãy mở sách đọc lại đúng bệnh lý đó, từ cơ chế sinh lý bệnh cho đến các chứng cứ điều trị mới nhất.

  3. Chủ động suy luận trước khi ra chỉ định: Trước khi cho làm một xét nghiệm hay chụp chiếu, hãy tự hỏi: "Kết quả này nếu dương tính mình sẽ làm gì, nếu âm tính mình sẽ thay đổi thái độ xử trí ra sao?". Nếu xét nghiệm không giúp thay đổi quyết định lâm sàng, hãy cân nhắc trước khi chỉ định.

  4. Duy trì thói quen Phân tích ca bệnh (Debriefing): Theo dõi sát tiến triển của bệnh nhân cho đến khi ra viện. Tham gia tích cực vào các buổi hội chẩn, báo cáo tử vong – biến chứng để mổ xẻ nguyên nhân. Việc đối diện thẳng thắn với sai sót chính là người thầy tốt nhất nâng tầm trực giác.

LỜI KẾT

Sens clinique không phải là thứ dùng để thay thế hay đối lập với công nghệ cận lâm sàng. Bác sĩ giỏi dùng sens clinique để chỉ định cận lâm sàng thông minh hơn và phiên giải dữ liệu máy móc một cách nhân văn hơn.

Máy móc cho chúng ta dữ liệu. Lý thuyết và Bằng chứng cho chúng ta kiến thức. Kinh nghiệm cho chúng ta thư viện. Nhưng chỉ có Khả năng suy luận sắc bén, được kiểm soát bằng Tư duy phản tỉnh và nuôi dưỡng bởi Lòng trắc ẩn, mới biến tất cả thành Trực giác Lâm sàng để cứu sống người bệnh.

Đó chính là ranh giới phân định giữa một người "thợ y tế" thuần túy tuân thủ máy móc và một "thầy thuốc" thực thụ.

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

Cố Giáo sư Đặng Văn Chung

Cố Giáo sư Đặng Văn Chung là tượng đài lớn, người đặt nền móng vững chắc cho ngành Nội khoa Việt Nam. Ông không chỉ là bậc thầy lâm sàng với khả năng chẩn đoán thần kỳ mà còn là người thắp sáng tư duy y học cho nhiều thế hệ bác sĩ nước nhà.
GS Đặng Văn Chung sinh năm 1913 tại Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Năm 1933, ông thi đỗ vào Trường Đại học Y Dược khoa Đông Dương. Đến năm 1937, ông vượt qua kỳ thi tuyển bác sĩ nội trú và làm việc tại Bệnh viện Bạch Mai.
Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ ngày 19/12/1946, GS Đặng Văn Chung lên chiến khu Việt Bắc, cùng GS Hồ Đắc Di xây dựng trường Y giữa núi rừng. Trong điều kiện vô cùng khó khăn, các thầy vừa duy trì việc đào tạo sinh viên y khoa, vừa phục vụ bộ đội và nhân dân trên các chiến trường.
Ở thời kỳ các phương tiện xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh còn hết sức thô sơ, GS Đặng Văn Chung đã khiến giới y khoa khâm phục bởi tư duy lâm sàng sắc bén. Chỉ với chiếc ống nghe cùng sự tỉ mỉ, thấu đáo khi thăm khám, ông đã chẩn đoán chính xác nhiều ca bệnh phức tạp như u tụy gây hạ đường huyết, u tủy thượng thận hay đa u tủy xương. Năng lực xuất thần ấy đã tạo nên niềm tin tuyệt đối, đến mức cố GS Tôn Thất Tùng từng khẳng định: “Tôi không thể yên tâm mổ tim mà không có chẩn đoán của GS Đặng Văn Chung.”
Bên cạnh tài năng khám chữa bệnh, ông là người khai sơn phá thạch, đặt nền móng cho Bộ môn Nội - Trường Đại học Y Hà Nội và các chuyên khoa then chốt tại Bệnh viện Bạch Mai, đặc biệt là ngành Tim mạch học Việt Nam (tiền thân của Viện Tim mạch Việt Nam ngày nay). Đáng kính hơn cả, sau thời gian đảm nhiệm cương vị Phó Hiệu trưởng, ông đã chủ động rút khỏi công tác quản lý để quay về trọn vẹn với giảng đường, giường bệnh và công việc chuyên môn.
Di sản GS Đặng Văn Chung để lại cho nền y học dân tộc là vô giá. Ông dạy học trò trưởng thành từ chính người bệnh, rèn luyện sự cẩn trọng từ những chi tiết nhỏ nhất. Các công trình kinh điển do ông biên soạn như “Bệnh học Nội khoa” và “Điều trị học” vẫn là cuốn gối đầu giường của hàng nghìn thầy thuốc.
Với những đóng góp đặc biệt xuất sắc trải dài hơn sáu thập kỷ, ông đã được Đảng và Nhà nước truy tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, đặc biệt năm 2000, ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về “Cụm công trình nghiên cứu nội khoa”. GS Đặng Văn Chung mãi là tấm gương sáng ngời về trí tuệ, sự tận tụy và y đức cao đẹp cho các thế hệ y bác sĩ Việt Nam noi theo.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

TRUYỆN CỰC NGẮN 💔 BS THI ANH BÀI HỌC NHỚ ĐỜI

 


Năm 1973, tôi là sinh viên Y3.
Hôm ấy là buổi đầu tiên đi lâm sàng ở khoa Ung thư Bệnh viện Bình Dân.
Chúng tôi có sáu đứa, sáu cái áo blouse trắng mới tinh, túi áo thêu 3 ngôi sao đỏ, cổ áo dựng lên vì căng thẳng. Từ cổng đường Phan Thanh Giản* đi vào, nắng Sài Gòn tháng đó không gắt lắm, vậy mà vừa bước qua cái hành lang khu ung thư, một mùi thối khắm, thối nồng nặc của mủ, của thịt hoại tử, của xác chết thối rữa xộc thẳng vào mũi cả bọn.
Tôi nín thở theo phản xạ. Thằng bạn đứng cạnh tôi đưa tay lên che mũi. Đứa con gái duy nhất trong nhóm thì tái mặt đi.
Khoa Ung thư thời đó không như bây giờ. Không có máy lạnh, không có buồng cách ly đầy mùi thuốc sát khuẩn. Chỉ là một dãy phòng dài, giường sắt kê gần nhau. Trên mỗi giường là một thân người đã bị ung thư gặm mòn. Có người nằm co quắp vì đau, có người rên ư ử...
Chúng tôi, sáu đứa nhóc Y3, vừa mới qua xong hai năm đầu chỉ học cơ thể học trên xác ướp, sinh lý học trên trong labo và triệu chứng học trên các bài giảng bệnh viện, chưa từng đối diện với những sinh mạng chỉ còn thoi thóp.
Sáu đứa líu ríu đứng chụm lại ở cửa khoa, e ngại chưa dám bước vào, tay kẹp chặt cuốn sổ ghi chép lâm sàng nhỏ bằng bàn tay.
Rồi chúng tôi thấy Thầy - Thầy Đào Đức Hoành**.
Thầy đang ngồi trên mép một chiếc giường bệnh ở cuối dãy. Một chiếc giường kê gần cửa sổ, nắng xiên vào chỉ đủ sáng một khoảng nhỏ.
Trên giường là một bà bệnh nhân khoảng năm mươi tuổi. Bà mặc một bộ bà ba nâu sờn, kiểu thường thấy của phụ nữ nông thôn miền Nam khi lên Sài Gòn chữa bệnh thời đó. Tóc bà đã điểm bạc, búi sau gáy nhưng rối bời. Bà rất gầy, xương quai xanh nhô hẳn lên, đôi mắt bà lo lắng như đang đối diện với một nỗi sợ hãi vô hình, nó trũng sâu có lẽ vì mất ngủ hay vì sụt cân quá nhanh. Sau này tôi mới biết bà bị ung thư cổ tử cung giai đoạn cuối, đã di căn, không còn khả năng điều trị vì đến quá muộn.
Thầy ngồi bên bà. Không phải ngồi trên ghế. Thầy ngồi hẳn lên giường bệnh, ngay sát chân bà, như một người thân của bà.
Thầy cầm tay bà. Tôi nhớ như in bàn tay thầy, bao trọn lấy bàn tay gầy guộc, khô đét của bà.
Thầy không đeo khẩu trang. Thầy cũng không mang găng tay.
Thầy hỏi chuyện bà nhỏ nhẹ, dịu dàng như với người thân của mình.
-Bà Tư, nhà bà ở đâu?
- Dạ thưa bác sĩ, ở dưới Cai Lậy...
- Bà có mấy cháu rồi? Đứa nào đi theo bà lên đây?
- Dạ có thằng Út nó theo...
Thầy nói giọng Bắc di cư, nghe nhẹ nhàng, ấm áp, chậm rãi, từ tốn.
Bà Tư ban đầu chỉ lí nhí, cứ chớp mắt nhìn đi chỗ khác, như ngại mình hôi thối không dám gần thầy. Nhưng thầy vẫn cầm lấy tay bà, thỉnh thoảng lại gật đầu khi bà trả lời, rồi vuốt nhẹ lên mu bàn tay nổi đầy gân xanh của bà.
Cả khoa vẫn ồn ào tiếng xe đẩy, tiếng rên rỉ, tiếng y tá gọi nhau văng vẳng, nhưng ở góc phòng đó, ở chiếc giường nồng nặc mùi ung thư đó, chỉ có hai người, một bác sĩ và một người bệnh, nói chuyện với nhau như hai người đã quen từ lâu rồi, không phải người dưng ở bệnh viện.
Chúng tôi sáu đứa đứng sững lại ở đó, không đứa nào còn che mũi. Các anh chị nội trú lớp trên cũng đứng sau thầy. Tất cả đều im lặng.
Theo lẽ thường, một buổi đi buồng đầu tiên, thầy sẽ gọi chúng tôi lại, giới thiệu bệnh nhân, chỉ vào khối u nào đó, giảng về cách thăm khám, về phân loại các giai đoạn của ung thư, về tiên lượng, về hướng điều trị... Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sổ để ghi chép những từ ngữ to tát đó.
Nhưng hôm đó, Thầy Hoành không giảng một chữ nào về bệnh.
Thầy không nói một tí gì về ung thư, về chẩn đoán, về tiên lượng của bà Tư. Thầy không lật hồ sơ bệnh án lên cho chúng tôi xem các kết quả xét nghiệm.
Thầy chỉ ngồi đó, cầm tay bà, hỏi bà ăn được không, đêm ngủ được không? có đau nhiều không? thằng Út nó có chỗ ngủ không?
Một lúc sau, bà Tư khóc. Khóc không thành tiếng Nước mắt bà chảy dài trên gò má hóp. Chỉ là những giọt nước mắt lặng lẽ của một người đàn bà biết mình sắp chết.
Thầy vẫn không buông tay bà ra. Thầy lấy trong túi áo blouse ra một chiếc khăn tay trắng, chấm nhẹ lên khóe mắt bà.
Khoảnh khắc đó, cái mùi hôi khắm nồng nặc của khoa ung thư mà lúc nãy làm chúng tôi muốn nôn mửa, bỗng dưng như biến mất.
Tôi chỉ còn cảm thấy mùi nắng khét trên bộ bà ba nâu của bà, mùi mồ hôi của một đời lam lũ.
Thằng bạn đứng cạnh tôi cúi gằm mặt xuống. Đứa con gái trong nhóm đưa tay quẹt mắt.
Chúng tôi hiểu.
Chúng tôi, sáu đứa sinh viên Y3 ngày đầu tiên đi lâm sàng ung thư năm 1973, vừa được học bài học lâm sàng đầu tiên và có lẽ là bài học quý giá nhất trong cả cuộc đời làm nghề y của mình.
Đó không phải là bài học về bệnh ung thư cổ tử cung.
Đó là bài học về cách đối xử với một con người đang mang trong mình căn bệnh ung thư.
Sau này ra trường, đi qua nhiều bệnh viện, phụ mổ nhiều ca, đọc hàng trăm cuốn sách y khoa rồi cũng quên dần theo năm tháng, nhưng tôi không bao giờ quên hình ảnh buổi sáng năm 1973 đó. Thầy Hoành ngồi trên giường bệnh, cầm tay một bà bệnh nhân nghèo, bệnh ung thư không còn khả năng điều trị.
Thầy đã dạy chúng tôi bằng chính hành động của mình: Khi y học bất lực, thì tình người là thứ thuốc duy nhất còn lại.
Giờ nghĩ lại, ở tuổi này, tóc tôi cũng đã bạc trắng, thầy tôi cũng ra đi đã lâu rồi, tôi mới thấy mình thật là may mắn. May mắn vì năm hai mươi mấy tuổi, khi còn là một thằng nhóc lơ ngơ, khá ngạo mạn với mớ kiến thức sách vở, tôi đã được học thầy một bài học đến giờ vẫn nhớ như in.
Hãy đối xử với bệnh nhân như chính người thân của mình.
Và mỗi khi tôi đặt tay lên bụng một bệnh nhân để thăm khám, tôi lại nhớ đến bàn tay to, ấm của thầy Hoành năm đó, bao trọn lấy bàn tay gầy guộc của bà Tư, ở khoa Ung thư Bệnh viện Bình Dân, trong một buổi sáng nồng nặc mùi tử khí, một ký ức sao ấm áp lạ thường.
💥Chú thích:
* nay là Đường Điện biên Phủ , trước năm 1975 có tên là đường Phan Thanh Giản.
** GS Đào Đức Hoành (1920 - 15.6.2002) là người đặt nền móng ngành Ung thư học miền Nam.
Thầy sinh tại Hà Nội, Tú tài 1941, tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa 1948. Thầy từng là Trưởng khu Bệnh lý Ngoại khoa Hà Nội (1950), Bác sĩ thường trú Ngoại khoa BV Yersin (1952).
Thầy tu nghiệp chuyên sâu về ung thư tại Pháp với GS Henri Redon và tại Viện Gustave Roussy với GS Pierre Denoix (1956-1957), học Đồng vị Phóng xạ ở Tokyo (1958), Observer tại Memorial Sloan Kettering, New York (1964-1965).
Tại Sài Gòn trước 1975:
• Trưởng khu Bệnh lý Ngoại khoa B - BV Bình Dân từ 1955.
• Giảng sư Ung thư học Đại học Y khoa Sài Gòn 1957, Giáo sư Thạc sĩ 1964, Giáo sư Thực thụ 1966.
• Thành lập Khoa Ung thư BV Bình Dân năm 1957, nơi vừa điều trị vừa giảng dạy cho sinh viên Y khoa Sài Gòn.
• Giám đốc Bệnh viện Bình Dân từ 1967.
Thầy có 41 công trình nghiên cứu, bảo trợ 70 luận án Tiến sĩ Y khoa (1958-1968), được kính trọng vì y đức và tài năng phẫu thuật đầu cổ, bụng chậu.
Thầy và gia đình đã rời Sài Gòn cuối tháng 4/1975 và sau đó định cư tại Canada.