Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2025

Ngày ấy - bây giờ của những bệnh viện Sài Gòn hơn 100 tuổi

 Trải hơn một thế kỷ giữa lòng Sài Gòn, có những bệnh viện từng bị trưng dụng làm nơi đóng quân, có nơi khởi thủy là ngôi chùa bốc thuốc miễn phí hoặc một trong những bệnh viện lớn nhất Đông Nam Á.

Bấm để lật ảnh sau/trước

Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới - lâu đời nhất Việt Nam (164 năm)

Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP HCM, tiền thân là Bệnh viện Chợ Quán, người Pháp mở nhằm phục vụ trận đánh đồn Kỳ Hòa ngày 24/2/1861. Cơ sở ban đầu là những ngôi nhà mái ngói của người Việt Nam giàu có để lại khi sơ tán, được bổ sung thêm giường bệnh.

Đây là bệnh viện lâu đời nhất Việt Nam, gắn với những biến động lịch sử qua hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ, có cả khu trại giam giữ, điều trị tù nhân. Ngày 26/8/1931, Tổng bí thư Trần Phú bị Pháp bắt, tra tấn đến lâm trọng bệnh nhưng kiên quyết không khai báo những bí mật cách mạng, bị đưa đến khu nhà giam này và hy sinh ngày 6/9 cùng năm.

Bệnh viện từng được xem là "một trung tâm y tế toàn khoa mới và tối tân hàng bậc nhất miền Nam Việt Nam" khi Hàn Quốc hỗ trợ xây mới vào năm 1974. Ngày 1/5/1975, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Ban Y tế xã hội miền Nam tiếp nhận và quản lý.

Năm 2002, nơi này đổi thành Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP HCM, là tuyến cuối điều trị các bệnh lây nhiễm, được xem là "tiền đồn" chống dịch chủ lực của thành phố và phía Nam. Bệnh viện đạt nhiều thành tựu trong hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học, song dần xuống cấp, quá tải bệnh nhân. Dự án xây Khoa Khám bệnh hơn 10 năm vẫn chưa được triển khai vì vướng quy hoạch.

Bấm để lật ảnh sau/trước

Bệnh viện Nhi đồng 2 (163 năm)

Ra đời năm 1862, sau Bệnh viện Chợ Quán một năm, do quân đội Pháp lập khi mới chiếm Nam Kỳ với tên Bệnh viện Quân sự (Hôpital militaire). Tại cơ sở này, nhà bác học Albert Calmette đã xây dựng phòng xét nghiệm, nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm, sản xuất vaccine, đặt nền móng xây dựng Viện Pasteur đầu tiên ngoài nước Pháp vào năm 1891.

Cấu trúc các tòa nhà trong khuôn viên bệnh viện đều là sườn sắt tiền chế đem ráp lại trên nền bằng đá. Mọi vật liệu được mang từ Pháp sang. Năm 1905, cơ sở này do bác sĩ Charles Grall điều hành, mở cửa chữa trị cho mọi thành phần quân sự cũng như dân sự, kể cả dân bản xứ, sau đó mang tên "Bệnh viện Grall" từ 1925.

Năm 1978, nơi này trở thành Bệnh viện Nhi đồng 2, là một trong những cơ sở tuyến cuối về nhi khoa của TP HCM và khu vực phía Nam, đạt nhiều thành tựu trong ghép tạng trẻ em, phẫu thuật các bệnh lý thần kinh, chấn thương sọ não...

Bấm để lật ảnh sau/trước

Bệnh viện An Bình (133 năm)

Khởi thủy là một ngôi chùa của người Hoa gốc Triều Châu, hình thành từ năm 1892, khám bệnh và bốc thuốc miễn phí. Do nhu cầu ngày càng tăng, bệnh viện được xây mới năm 1916, đến năm 1945 áp dụng chữa trị Tây y và có tên Bệnh viện Triều Châu. Năm 1978, nơi này đổi thành Bệnh viện An Bình, do Sở Y tế TP HCM quản lý. Ngày 19/5/1994 bệnh viện mang tên Bệnh viện miễn phí An Bình và từ năm 2001 trở lại là Bệnh viện An Bình.

Bấm để lật ảnh sau/trước

Bệnh viện Chợ Rẫy (125 năm)

Năm 1900, bệnh viện Hôpital municipal de Cholon thành lập với các tòa nhà kiểu Pháp, cao hai tầng, sau đó trải qua nhiều lần đổi tên. Mảnh đất vốn trước đây là khu mua bán của người Hoa có tên chợ Rẫy nên người dân quen gọi Bệnh viện Chợ Rẫy và tên này được dùng chính thức từ năm 1957 đến nay. Năm 1971 đến 6/1974, nơi này tái xây dựng với tòa nhà 11 tầng, trở thành một trong những bệnh viện lớn nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ.

Hiện, Chợ Rẫy là bệnh viện đa khoa hạng đặc biệt trực thuộc Bộ Y tế, một trong những bệnh viện tuyến cuối lớn nhất Việt Nam, tiếp nhận hàng nghìn lượt khám chữa bệnh mỗi ngày, quy mô 1.800 giường.

Bấm để lật ảnh sau/trước

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (122 năm)

Ra đời năm 1903, nơi đây ban đầu là trạm y tế nhỏ chuyên chữa trị miễn phí cho cộng đồng người Hoa thuộc bang Quảng Đông. Năm 1919 trạm được xây dựng quy mô lớn hơn với tên mới Y viện Quảng Đông, hoạt động theo mô hình bệnh viện tư nhân cho đến sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.

Năm 1978, y viện được công lập hóa, một thời gian sau được đổi tên thành Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, hiện là bệnh viện đa khoa hạng một của Sở Y tế TP HCM.

Bấm để lật ảnh sau/trước

Bệnh viện Hùng Vương

Từng là một phần của Hospital Municipal de Cholon (Bệnh viện Chợ Rẫy), đến năm 1938 khu chuyên khoa sản được tách riêng thành Bảo sanh Chợ Lớn, chủ yếu để sinh thường và làm trường đào tạo nữ hộ sinh bản xứ. Sau khi xây cất xong Bảo sanh viện Từ Dũ (1940), nơi đây được sử dụng một phần làm Viện Dưỡng nhi nuôi trẻ mồ côi. Viện từng bị Nhật trưng dụng làm doanh trại khi chiếm Việt Nam và Pháp làm đồn công an (trại Polo Chợ lớn) chuyên bắt giam, tra tấn tù chính trị.

Sau khi sửa chữa, nâng cấp, ngày 23/3/1958 Bảo sanh Chợ Lớn được khánh thành và đổi thành Bảo sanh viện Hùng Vương, đến năm 1968 mang tên Bệnh viện Hùng Vương - tuyến cuối về sản phụ khoa của phía Nam. Năm 2024, nơi này là bệnh viện công đầu tiên Việt Nam được chứng nhận chất lượng bệnh viện quốc tế ACHS của Australia.

Bấm để lật ảnh sau/trước

Bệnh viện Từ Dũ

Tiền thân cũng là một khu chuyên khoa sản thuộc Bệnh viện Lalung Bonnaire (nay là Bệnh viện Chợ Rẫy) ra đời năm 1923. Đến năm 1937, thương gia người Hoa là Hui Bon Hoa (tức chú Hỏa) hiến mảnh đất trên đường Arras (nay là đường Cống Quỳnh) để xây bảo sanh viện mang tên Maternité Indochinoise (Bảo sanh viện Đông Dương) do giáo sư George Cartoux người Pháp làm giám đốc.

Do chiến tranh nên khi xây xong, bảo sanh viện bị quân đội Pháp, sau đó là Nhật trưng dụng làm nơi đóng quân. Đến tháng 9/1943, bảo sanh viện hoạt động với khoảng 100 giường và trải qua nhiều lần đổi tên, song thường được người dân gọi "Nhà sanh Chú Hỏa". Năm 1948, bệnh viện đổi thành Bảo sanh viện Từ Dũ.

Ngày 8/4/2004, nơi đây trở thành Bệnh viện Từ Dữ, là trung tâm sản phụ khoa lớn nhất khu vực phía Nam, tiên phong triển khai thành công nhiều thành tựu mới trong lĩnh vực này.

Bấm để lật ảnh sau/trước

Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (119 năm)

Thành lập năm 1906, ban đầu là bệnh viện tư mang tên Drouhet, sau đó đổi thành Nguyễn Văn Thinh, Hồng Bàng. Trước 1975, đây là cơ sở duy nhất miền Nam điều trị nội trú bệnh nhân lao. Sau khi tiếp quản năm 1975 được đổi tên Viện chống lao miền Nam thuộc Bộ Y tế.

Năm 1987, nơi này trở thành Trung tâm lao và bệnh phổi Phạm Ngọc Thạch thuộc Sở Y Tế TP HCM và sau đó đổi thành Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Hiện đây là bệnh viện hạng một, đầu ngành trong điều trị lao và bệnh phổi của phía Nam.

Bấm để lật ảnh sau/trước

Bệnh viện Nhân dân Gia Định - 109 năm

Tiền thân là Hôpital de Gia Dinh do người Pháp xây dựng năm 1916, trải qua nhiều lần đổi tên như Bệnh viện Nguyễn Văn Học, Trung tâm thực tập Y khoa. Từ năm 1975 đến nay, nơi này mang tên Bệnh viện Nhân dân Gia Định. Đây là một trong những bệnh viện đa khoa loại một trực thuộc Sở Y tế TP HCM, với đủ các chuyên khoa lớn, quy mô 1.500 giường.

Lê Phương

Ảnh do các bệnh viện cung cấp và tư liệu xưa tổng hợp từ nhiều nguồn

Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

1 phương pháp mổ của giáo sư Việt Nam từng bị công kích vì quá mới, sau đó khiến cả thế giới thán phục

 Ngọc Minh

Trước khi được thế giới công nhận, phương pháp mổ gan độc đáo này của giáo sư Tôn Thất Tùng đã từng bị từ chối, chỉ trích vì quá mới.

Cú “sốc” đầu đời với sự công kích dữ dội

GS.BS Tôn Thất Tùng (1912-1982) là một bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới trong lĩnh vực gan và phẫu thuật gan. Ông là cha đẻ của “Phương pháp cắt gan khô” hay còn gọi là “Phương pháp Tôn Thất Tùng”.

Tuy nhiên hành trình để cả thế giới ghi nhận “Phương pháp cắt gan khô” lại không hề đơn giản.

Trong thời gian học tại trường Đại học Y Hà Nội, chàng sinh viên Tôn Thất Tùng nhanh chóng nhận ra kiến thức của các thầy giáo người Pháp chỉ chú trọng sách vở, rất ít liên hệ tới thực tế khí hậu, con người bản xứ. Vì vậy, ông quyết định học tập và nghiên cứu, tìm hướng đi riêng cho mình.

Chiều mùa đông năm 1935 tại Viện mổ xác, chàng sinh viên 23 tuổi Tôn Thất Tùng đã phát hiện một hiện tượng rất “lạ” khi thấy hàng chục con giun đã chui vào các ống mật trong gan. Ông đã tỷ mỉ vẽ lại sơ đồ gan, các ống mật trong gan và đối chiếu để tìm ra những nét trùng hợp.

Nhờ đường đi của những con giun ông đã phẫu tích và tìm được đường đi của những ống mật, mạch máu trong gan. Một việc mà trước đó trên thế giới chưa ai làm được. Đây là một phát hiện mới trong nghiên cứu gan.

 - Ảnh 1.

Giáo sư Tôn Thất Tùng đã vẽ các mạch máu trong gan.

Với phát hiện đó, trong bốn năm tiếp theo (1935 -1939), giáo sư Tôn Thất Tùng đã phẫu tích hơn 200 lá gan người chết, từ đó hoàn thiện luận án tốt nghiệp bác sỹ y khoa với nhan đề “Cách phân chia mạch máu của gan”.

Tôi đã có một kỹ thuật phẫu tích đặc biệt bằng nạo gan: chỉ trong 15 phút, tôi có thể phơi trần tất cả các mạch máu trong gan và nhờ cách làm việc như vậy sau này tôi có thể cắt gan, không kể bộ phận nào của nó, chỉ trong chưa đầy 10 phút”, giáo sư Tôn Thất Tùng viết.

Bản luận án và khám phá của chàng sinh viên Tôn Thất Tùng đã được tặng hai Huy chương Bạc của Liên hiệp Pháp và Đại học Y Paris.

Năm 1939, sau khi trở thành bác sĩ nội trú tại Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức) giáo sư Tôn Thất Tùng đã thực hiện thành công cắt gan có kế hoạch: bằng cách thắt các mạch máu trong gan trước khi cắt cho một bệnh nhân. Sau ca phẫu thuật, bệnh nhân hồi phục và trở lại được với cuộc sống.

Giáo sư Tôn Thất Tùng đã gửi báo cáo về phương pháp cắt gan tới Viện Hàn lâm phẫu thuật Paris. Tuy nhiên, thành công của ông do quá mới mẻ nên đã bị từ chối và bị công kích dữ dội.

Với tư duy nghiên cứu khoa học, giáo sư Tôn Thất Tùng không hề bỏ cuộc. Tuy nhiên, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nổ ra nên công trình nghiên cứu về gan của ông bị ngắt quãng.

Tiếp tục đối mặt với công kích rồi khiến cả thế giới phải kinh ngạc

Khi kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi, tháng 10/1954, giáo sư Tùng quay trở lại Hà Nội. Ông được cử làm giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn và chủ nhiệm bộ môn ngoại Đại học Y Hà Nội. Thời điểm này ông đã quay lại với đam mê nghiên cứu về phương pháp mổ gan.

Giáo sư Đặng Hanh Đệ học trò của giáo sư Tôn Thất Tùng chia sẻ: Thầy Tùng chỉ mổ vào 3 buổi sáng thứ Hai, Tư, Sáu hàng tuần trong những năm 1960, những ngày còn lại thầy thường xuống phòng đại thể mổ xác - nơi làm các tiêu bản giải phẫu bệnh và lưu trữ những bệnh phẩm quý hiếm. Bác sĩ Bằng (chủ nhiệm khoa) đã chuẩn bị sẵn các gan được ngâm formol để phẫu tích. Thầy thích dùng nạo (curette) để nạo bỏ nhu mô gan từ cuống, các thành phần khác (mạch máu, đường mật) dai hơn nên còn trơ lại sau khi nạo.

Cách làm này sẽ cho hình ảnh trong không gian ba chiều về quan hệ, vị trí của mạch máu (chủ yếu là tĩnh mạch cửa) và đường mật, vừa nạo vừa học thuộc…

Cả trăm cái gan được phẫu tích như vậy nên thầy thuộc lòng sự phân chia của mạch máu trong gan, quan hệ của các mạch máu so với bề mặt gan.

 - Ảnh 2.

Giáo sư Tùng mổ gan.

Ngày 7/1/1961, giáo sư Tôn Thất Tùng cắt thuỳ gan phải của một bệnh nhân ung thư chỉ vẻn vẹn trong 10 phút. Nếu theo phương pháp cắt gan của giáo sư người Pháp Lortat-Jacob, được giới thiệu năm 1952, thì phải mất 5-6 tiếng. Sau khi được đăng tải trên tờ “The Lancet” ở London, công trình của Giáo sư Tôn Thất Tùng đã làm chấn động dư luận. Tuy nhiên, lần công bố này giáo sư Tôn Thất Tùng tiếp tục bị công kích và còn bị công kích mạnh mẽ hơn lần trước là năm 1939.

Giáo sư Đặng Hanh Đệ chia sẻ: “Chính lúc đó thầy đã làm để cho số liệu thuyết phục. Để người chưa làm cũng phải tin cách này là cách tốt nhất”.

Trong vòng 1 năm giáo sư Tôn Thất Tùng đã cắt gan thành công cho 50 trường hợp, vượt kỷ lục của Lortat-Jacob gấp 10 lần. Tuy nhiên, thời gian này phương pháp cắt gan của ông vẫn chưa được công nhận.

Năm 1964, nhân dịp sang Pháp, ông đã trình diễn phương pháp cắt gan. Tại đây, giáo sư được nhiều người ủng hộ, nhưng số người công kích vẫn rất lớn.

Trong thời gian từ năm 1964 đến 1974, giáo sư Tôn Thất Tùng vẫn miệt mài với những ca mổ gan để chứng minh cho giới Y khoa thế giới thấy phương pháp mổ đó có hiệu quả.

Năm 1974, giáo sư Tôn Thất Tùng được mời sang Thuỵ Điển, tại đây ông cắt toàn bộ gan phải chỉ mất 4 phút.

"Cùng năm đó Giáo sư Vi-a (Viard), chủ tọa cuộc họp tuyên bố: Phương pháp của ông Lót-ta Ja-cốp, của ông Tùng đều có giá trị như nhau. Nhưng phương pháp của ông Tùng nên áp dụng vào các trường hợp vỡ và các trường hợp cắt gan khó... Và cũng phải mất 12 năm, từ ngày tôi công bố phương pháp cắt gan của tôi trong báo "Dao bầu" ở Luân-đôn, giới y tế Pháp mới chịu nhận phương pháp của tôi như là một phương pháp kinh điển. Từ phát minh đến khi người ta công nhận, đường đi khi nào cũng rất dài vì trong khoa học, một kinh nghiệm mới phải được mọi người thử nghiệm có kết quả mới có giá trị, và khi một phương pháp trở thành kinh điển, đó là một vinh dự rất lớn cho người phát minh”, giáo sư Tôn Thất Tùng viết lại trong hồi ký.

Giới Y khoa thế giới đã công nhận phương pháp của giáo sư Tôn Thất Tùng. Phương pháp cắt gan của giáo sư Tùng đã khiến cả thế giới kinh ngạc.

Năm 1977, Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris tặng giáo sư Tôn Thất Tùng Huy chương vàng phẫu thuật quốc tế Lannelongue, giải thưởng cao quý nhất trong ngành phẫu thuật thế giới, 5 năm mới tặng 1 lần cho một nhà phẫu thuật xuất sắc tại thời điểm đó.

Đến năm 1979, giáo sư Tôn Thất Tùng đã thực hiện khoảng trên 700 ca cắt gan lớn, nhỏ. Ngày nay, mổ gan khô đã trở thành một trong hai phương pháp cắt gan chính trên toàn thế giới.

GS. Daniel Jaeck, Cựu Chủ tịch và Viện sĩ Viện Hàn lâm Ngoại khoa quốc gia Pháp chia sẻ: Đối với chúng tôi, giáo sư Tôn Thất Tùng vẫn là một trong những ông tổ nổi tiếng nhất, tiêu biểu nhất trong phẫu thuật hiện đại về gan. Các công trình của giáo sư là nguồn gốc của những tiến bộ lớn lao trong chuyên ngành phẫu thuật trên thế giới”.

*Bài viết có tham khảo tư liệu: Hồi ký Đường vào khoa học của tôi; Phim tài liệu "AHLĐ.GS.BS Tôn Thất Tùng" và một số tư liệu khác.