Nguồn tài liệu là nội dung từ buổi họp mặt truyền thống lần thứ 33 của Quân Dân y Chiến khu Đ, nơi các nhân chứng lịch sử chia sẻ về những ký ức thời chiến đầy gian khổ. Các bác sĩ và cựu chiến binh đã kể lại những nỗ lực cứu chữa thương binh trong điều kiện thiếu thốn thuốc men, thậm chí phải đối mặt với hiểm nguy cận kề từ các cuộc càn quét của kẻ thù. Qua đó, người xem thấy được tinh thần hy sinh cao cả và lòng tận tụy của đội ngũ y tế khi sẵn sàng nhường cơm sẻ áo và hiến máu để cứu sống đồng đội. Nguồn tin cũng nhấn mạnh sự phát triển nhanh chóng về kỹ thuật y khoa từ dã chiến đến hiện đại, giúp nâng cao khả năng điều trị cho bộ đội. Cuối cùng, những người đi trước gửi gắm tâm nguyện mong thế hệ thầy thuốc trẻ hôm nay luôn giữ vững y đức và sự thấu cảm đối với bệnh nhân. Đây là một tư liệu quý báu nhằm tôn vinh những giá trị nhân văn sâu sắc của ngành y tế trong suốt chặng đường lịch sử của đất nước.
Những kỷ niệm về y tế tại Chiến khu Đ trong kháng chiến là gì?
- Tinh thần "Một trái tim - hai màu áo": Đây là biểu tượng của lực lượng quân dân y Chiến khu Đ, nơi những người thầy thuốc vừa là bác sĩ tận tụy vừa là chiến sĩ kiên cường. Họ thường xuyên trong tình trạng "tay cầm súng, vai mang túi cứu thương", sẵn sàng chiến đấu bảo vệ căn cứ và cứu chữa thương binh ngay tại mặt trận.
- Huyền thoại về những ca mổ đặc biệt: Trong điều kiện thiếu thốn thuốc men và dụng cụ y tế, các y bác sĩ đã phải "lấy chiến hào làm nơi cấp cứu, lấy địa đạo làm phòng mổ". Có những ký ức không thể quên về việc bác sĩ phải dùng cưa thợ mộc để cưa chân cho thương binh giữa rừng sâu. Trong những ca mổ không có thuốc gây mê đó, người chiến sĩ bị thương đã hát vang bài "Tiến quân ca" để át đi nỗi đau, còn bác sĩ thì vừa cưa vừa khóc vì xót thương đồng đội.
- Sự thiếu thốn và điều kiện khắc nghiệt: Chiến khu Đ còn được gọi vui là "chiến khu đói" bởi sự gian khổ không thể đong đếm. Ngoài bom đạn, lực lượng y tế phải đối mặt với thời tiết khắc nghiệt, thú dữ, rắn rết, sên, vắt và muỗi mòng. Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, do thiếu máu truyền, các y bác sĩ có nhóm máu O đã sẵn sàng nằm xuống truyền máu trực tiếp cho thương binh ngay cả khi bản thân họ đang phải nhịn đói.
- Ký ức về sự khốc liệt của chiến trường: Đại tá, bác sĩ Phạm Văn Trọng nhớ lại những lần tiếp nhận thương binh từ nội đô đưa ra trong tình trạng vết thương đầy dòi bọ vì phải nằm lâu dưới đám mía, ruộng rạch mà không được cứu chữa kịp thời. Tỷ lệ hy sinh của lực lượng y tế cũng rất cao; có những đội phẫu thuật và tiểu đoàn quân y gần như hy sinh hoặc bị bắt hết chỉ sau một tháng phục vụ chiến đấu.
- Sáng tạo trong y học sinh tồn: Để khắc phục tình trạng thiếu thuốc tây, các y bác sĩ đã tích cực nghiên cứu và vận dụng các phương thuốc cổ truyền từ cây cỏ quanh chiến khu. Những loại thuốc như Quinita (trị sốt rét từ dây cóc bạch) hay việc ứng dụng liệu pháp Filatov (chiết xuất từ nhau thai) đã giúp cứu sống và phục hồi sức khỏe cho hàng ngàn chiến sĩ.
- Nỗi đau về những đồng đội chưa trở về: Một phần ký ức đau xót là việc phải chôn cất đồng đội một cách bí mật, san phẳng mộ và trồng cỏ lên trên để tránh bị địch phát hiện, đào xới. Cho đến nay, vẫn còn nhiều hài cốt liệt sĩ ngành y tế vẫn chưa được tìm thấy để trở về với gia đình.
Sự phát triển của ngành quân y từ thời chiến đến nay thế nào?
- Khởi đầu thô sơ: Tiền thân của quân y là các nhóm nhân viên y tế từ các bệnh viện Sài Gòn gia nhập tự vệ chiến đấu, hình thành các Ban Hồng thập tự (Hội Chữ thập đỏ) phục vụ tại các mặt trận bao quanh Sài Gòn. Ban đầu, các đơn vị chỉ có khả năng cấp cứu và vận chuyển thương binh cơ bản.
- Xây dựng hệ thống: Tháng 4 năm 1946, Quân y cục chính thức được thành lập, đánh dấu ngành quân y trở thành một ngành độc lập. Tại Nam Bộ, Sở Quân dân y Nam Bộ ra đời vào tháng 9 năm 1946, thiết lập hệ thống từ Sở đến quân y các đại đội.
- Y học sinh tồn: Do thiếu hụt dụng cụ y tế và thuốc men trầm trọng, các y bác sĩ phải dùng cả cưa thợ sắt để mổ hoặc tận dụng thuốc nam từ nhân dân. Những nỗ lực này đã dẫn đến việc sản xuất thành công các loại vacxin phòng dịch (tả, đậu mùa) ngay trong điều kiện kháng chiến.
- Mở rộng quy mô: Từ những đơn vị nhỏ lẻ chỉ có 1-2 y tá hoặc y sĩ ban đầu, ngành quân y đã phát triển mạnh mẽ, đào tạo được đội ngũ đông đảo qua các lớp cứu thương giải phóng.
- Nâng cao năng lực phẫu thuật: Từ chỗ chỉ xử lý được các vết thương phần mềm, quân y đã tiến lên thực hiện được các ca đại phẫu phức tạp về bụng, ngực, gan, lách và sọ não ngay tại chiến trường.
- Sáng tạo kỹ thuật: Ứng dụng thành công liệu pháp Filatov (chiết xuất từ nhau thai) giúp phục hồi sức khỏe cho thương bệnh binh bị suy kiệt. Tinh thần sẵn sàng truyền máu trực tiếp từ bác sĩ sang bệnh nhân trong điều kiện nhịn đói đã trở thành biểu tượng của thời kỳ này.
- Tiếp quản và xây dựng: Sau năm 1975, lực lượng quân y từ chiến trường trở về đã tham gia tiếp quản các cơ sở y tế đô thị, chuyển sang giai đoạn phục vụ nhân dân trong thời bình.
- Kết hợp Quân - Dân y: Mô hình này tiếp tục được duy trì và phát triển thông qua Ban Liên lạc Quân dân y Chiến khu Đ, tổ chức các hoạt động khám bệnh, cấp thuốc miễn phí và trao học bổng cho sinh viên ngành y.
- Y tế hiện đại, kỹ thuật cao: Ngành y tế hiện nay đã làm chủ được nhiều công nghệ tiên tiến như phẫu thuật Robot, kỹ thuật E-CPR (ECMO trong hồi sức tim phổi), và đẩy mạnh chuyển đổi số y tế.
- Tầm nhìn tương lai: Tại TP.HCM, ngành y tế đang thực hiện Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị, hướng tới xây dựng hệ thống y tế tiên tiến, hiện đại, lấy người dân làm trung tâm, xứng đáng với truyền thống vẻ vang của các thế hệ đi trước.
Các y bác sĩ xưa đã vượt qua khó khăn thiếu thốn như thế nào?
- Tận dụng địa hình: Các y bác sĩ đã biến "chiến hào làm nơi cấp cứu, địa đạo làm phòng mổ" để thực hiện các ca phẫu thuật ngay dưới làn mưa bom bão đạn.
- Dụng cụ thô sơ: Khi thiếu dụng cụ y tế chuyên dụng, họ buộc phải sử dụng cưa thợ mộc (cưa gỗ) hoặc cưa sắt và dao thường để thực hiện các ca mổ, cưa chân cho thương binh.
- Điều kiện tác chiến: Nhiều ca phẫu thuật phức tạp đã được tiến hành dưới ánh đèn dầu trong lòng rừng sâu.
- Sử dụng cây rừng quý: Tận dụng các loại cây đặc trưng của Chiến khu Đ như Lành ngạnh và Mật nhân (cây Bá bệnh) để hỗ trợ điều trị.
- Bào chế thuốc thay thế:
- Thuốc sốt rét (Quinita): Được làm từ thường sơn và dây cóc bạch tán nhỏ, ép viên.
- Thuốc bổ: Chế biến từ hà thủ ô, mã tiền, vỏ cây ô tước, củ sâm đất hoặc cao xương động vật.
- Các loại khác: Dùng cây nút áo trị lỵ, cây gió ma làm thuốc xổ, mộng ngô (bắp) làm bột đau dạ dày và dầu cù là để trị cảm, chấn thương.
- Phổ biến kiến thức: Biên soạn và phát hành hàng ngàn quyển sách như "Dược tính Đông y" và "Tủ thuốc nhân dân" để hướng dẫn người dân tự chữa bệnh bằng thuốc nam.
- Liệu pháp Filatov: Bác sĩ Nguyễn Thiện Thành đã nghiên cứu thành công phương pháp chiết xuất thuốc bổ từ nhau thai, giúp tăng sức đề kháng và hồi phục nhanh chóng cho thương bệnh binh bị suy kiệt do sốt rét.
- Sản xuất Vacxin thủ công: Ngành dân y đã tự sản xuất thành công các loại vacxin phòng dịch tả, thương hàn, đậu mùa và bệnh dại.
- Họ dùng trâu con (nghé) để nuôi cấy giống, phải canh chừng suốt ngày đêm để nốt đậu không bị nhiễm bẩn.
- Thay vì tủ lạnh, vacxin được nhét vào thân cây chuối để giữ mát trong quá trình bảo quản và vận chuyển ra chiến trường.
- Hiến máu trực tiếp: Trong những thời điểm thiếu máu cấp cứu, các y bác sĩ sẵn sàng nằm xuống truyền máu trực tiếp cho thương binh ngay cả khi bản thân đang phải nhịn đói.
- Trực tiếp chiến đấu: Họ thực hiện khẩu hiệu "tay cầm súng, vai mang túi cứu thương", sẵn sàng đánh xe tăng địch để bảo vệ an toàn cho thương binh dưới hầm địa đạo.
- Bám trụ chiến trường: Bất chấp sự đánh phá khốc liệt của địch, lực lượng quân dân y vẫn kiên cường bám trụ, giành giật từng hơi thở cho đồng đội trong những giờ phút sinh tử.
Ai là người sáng lập Ban Liên lạc Quân dân y?
- Bác sĩ Võ Cương: Ông nguyên là Trưởng ban Quân dân y tỉnh Thủ - Biên và là người giữ trọng trách Trưởng ban Liên lạc đầu tiên của tổ chức này.
- Bác sĩ Nguyễn Thành Văn: Nguyên Phó Chủ tịch UBND đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo.
- Giáo sư - Viện sĩ, Anh hùng Lao động Nguyễn Duy Cương: Nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế.
Bác sĩ Võ Cương sau giải phóng đã giữ những chức vụ gì?
- Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Y Dược TP.HCM.
- Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược TP.HCM.
- Trưởng ban Liên lạc truyền thống Quân dân y Chiến khu Đ - miền Đông Nam bộ: Ông là một trong những thầy thuốc tâm huyết đã đặt nền móng và trực tiếp vận động thành lập tổ chức này vào năm 1989 nhằm tập hợp, chăm sóc các thế hệ y bác sĩ cách mạng.
Tìm hiểu về Trưởng Ban Liên lạc Huỳnh Văn Nhị
- Bác sĩ Huỳnh Văn Nhị tự nhận mình thuộc "thế hệ đàn em, con cháu" của các y bác sĩ từng chiến đấu tại Chiến khu Đ.
- Ông có mối liên hệ mật thiết với lịch sử vùng đất này khi cha của ông vốn là bạn chiến đấu của nhiều bậc tiền bối trong ngành quân dân y miền Đông.
- Chính niềm tự hào về truyền thống "chiến sĩ áo trắng" hào hùng của cha anh đã trở thành động lực để ông dốc hết tâm huyết thực hiện các hoạt động tri ân và đền ơn đáp nghĩa.
- Ông là một bác sĩ có uy tín với danh hiệu cao quý Thầy thuốc Nhân dân,.
- Trong quá trình công tác, ông từng đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bình Dương (ghi nhận tại thời điểm năm 2015).
- Ông tiếp nhận trọng trách Trưởng Ban Liên lạc từ các bậc tiền bối như bác sĩ Võ Cương, bác sĩ Nguyễn Thành Văn và Giáo sư Nguyễn Duy Cương để tiếp tục mở rộng và phát triển tổ chức này.
- Tổ chức họp mặt truyền thống: Ông là người cầm trịch các kỳ họp mặt thường niên (như lần thứ 33 vừa diễn ra tại TP.HCM vào tháng 6/2026) nhằm ôn lại truyền thống "lấy chiến hào làm nơi cấp cứu, lấy địa đạo làm phòng mổ",,.
- Công tác Đền ơn đáp nghĩa: Ông trực tiếp chỉ đạo các chương trình xây dựng nhà tình nghĩa, thăm hỏi hội viên lúc ốm đau, và tổ chức lễ tiễn biệt trang trọng cho những đồng đội qua đời,,.
- Chăm lo thế hệ trẻ: Ông đặc biệt quan tâm đến việc trao học bổng cho sinh viên ngành y vượt khó tại các trường đại học y dược, coi đó là cách để "truyền lửa" y đức và tiếp thêm nghị lực cho đội ngũ thầy thuốc tương lai,,.
- Hoạt động thiện nguyện: Ông cùng Ban Liên lạc phối hợp tổ chức các đợt khám bệnh, cấp thuốc miễn phí và tặng quà cho người dân tại các vùng căn cứ cách mạng xưa như Tân Phú (Long An) hay Bình An,,.
- Lưu giữ lịch sử: Ông đã cùng các cộng sự thu thập tài liệu để biên soạn đặc san "Tự hào quân dân y Chiến khu Đ" như một lời tri ân gửi đến các thế hệ đi trước.